Wednesday, September 10, 2008

TAM SA - KHÂM SỨ - THÁI HÀ

THÁI HÀ – KHÂM SỨ - TAM SA

CÔNG LÝ VÀ DƯ LUẬN

 


Những câu chuyện thực

 

1.     Ngày 25/6/2005, Nguyễn Đức Chi bị bắt trong một vụ gọi là “siêu lừa” với hàng loạt cáo buộc nặng nề. Vượt qua tất cả những giới hạn của thời hạn tạm giam theo luật định, chính quyền vẫn chưa thể đem vụ án ra xét xử. Dư luận cồn cào.

 

2.     Ngày 4/4/2006 Chính quyền bắt giam thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến. Một thời gian sau khi ông bước ra khỏi nhà giam, những nhà báo chống tiêu cực mạnh mẽ nhất của 2 tờ báo lớn đã tra tay vào còng. (12/5/2008). Dư luận tiếp tục xôn xao với một cường độ cao chưa từng thấy.

 

3.     Từ đầu năm 2006, hàng loạt nhà đấu tranh cho dân chủ và dân oan bị bắt, xét xử và kết án với những tội danh khác nhau. Công tố vụng về khi đưa ra bằng chứng và không tranh luận sâu sắc về các cấu thành tội phạm tại tòa. Dư luận trong và ngoài nước phản đối dữ dội trong một “cơn lên đồng tập thể”.

 

4.     Ngày 27/8/2008 Nhà nước khởi tố vụ án giáo dân Thái Hà xô đổ tường, bắt giam một số giáo dân. Tiếp theo, Chính quyền dùng giày đinh, dùi cui và hơi cay để giải tán giáo dân khi họ yêu cầu thả người. Trước đó, ngày 26/1/2008 Công an Quận Hoàn Kiếm đã kịp khởi tố vụ án tại Tòa Khâm sứ với cùng một tội danh.

 

5.     Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế ở Thái Hà khẳng định đồng chịu trách nhiệm với tất cả giáo dân trong sự biến. Gần 7 triệu người dân công giáo hiệp thông cho những việc đang xảy ra tại Thái Hà. Hàng ngàn người vẫn tiếp tục đổ về linh địa trong sự thôi thúc của tâm linh và khát khao kiếm tìm công lý. 

 

Những cách tiếp cận sai  

 

Khi bắt 2 nhà báo, công an đã giữ bí mật và không làm công tác tư tưởng trước với Ban biên tập cho nên liên tục 2 ngày sau đó các báo này đã phản công lại vụ bắt giữ bằng những lời lẽ mạnh mẽ. Việc các báo lên tiếng để bênh vực cho các phóng viên của mình là bất ngờ với cả lãnh đạo Bộ truyền thông, Bộ công an và Ban tuyên giáo trung ương. Họ không ngờ rằng chính những đảng viên chủ chốt của những tờ báo đã bắt đầu công khai đòi ‘thay máu’.

 

Thế nhưng không làm công tác tư tưởng trước trong vụ bắt 2 nhà báo là một thất bại thì việc “dọn đường dư luận” ở Thái Hà lại là một thất bại rất lớn khác về tuyên huấn. Việc phát sóng đã gây ra một cú sốc phản vệ, kích thích mãnh liệt mọi người quan tâm tìm hiểu sự thực, đặc biệt là người công giáo. Trang Vietcatholic và Chúa Cứu Thế có thêm hàng triệu lượt truy cập mới, hàng ngàn bản đơn khiếu nại và thư hiệp thông vẫn được phát tại nhà thờ cho bất cứ ai quan tâm.

 

Năm ngoái, một chiến dịch truyền thông ào ạt tấn công vào các nhà dân chủ đã làm cho nhân dân hoang mang tưởng như chính quyền sắp sửa có biến, sự ‘an nguy’ của chế độ như đang bị đe dọa nghiêm trọng. Tất cả đều có một phản ứng ngược. Người ta quan tâm, nghi ngờ và thậm chí hy vọng nhiều hơn.

Không chỉ dừng ở mức độ đó, đài báo gần đây tiếp tục vu cáo một cách hoảng hốt về sự đứng sau của các tổ chức “phản động” hoặc các ‘quốc gia thù địch’. Chính quyền đã cố tình hình sự hóa và chính trị hóa những vấn đề tranh chấp dân sự giản đơn. Điều đó đã làm Mỹ và các nước phương tây phải để tâm vì ai cũng hiểu rằng đài truyền hình Hà Nội ngầm ám chỉ các ‘thế lực thù địch’ là ai.

 

Chính điều đó đã tạo một cơn địa chấn mới trong thời điểm Chính quyền Mỹ đang chuẩn bị báo cáo hàng năm về tình hình Nhân quyền trên thế giới và Dự luật Nhân Quyền - HR3096 cho Việt Nam sẽ được đưa ra bàn thảo tại Thượng Viện Hoa Kỳ trong tháng 9. Quan trọng hơn, nó xảy ra vào thời điểm mà các trang mạng của Trung Quốc liên tục đưa tin về các kế hoạch xâm lược Việt Nam.

 

Rõ ràng cách tiếp cận này là sai và sự suy giảm niềm tin của dân chúng vào Chính quyền là điều có thực. Sự suy giảm sẽ dẫn đến việc co cụm từng bộ phận dân chúng như một phản ứng tự vệ hay giản đơn hơn là nhu cầu chia sẻ. Điều đó đã kích thích các xã hội dân sự tiếp tục hình thành và phát triển. Và vì thế, việc bất mãn ngày càng gia tăng với sự hiện diện của những khối quần chúng đông đảo song song với những băng rôn bí mật bất ngờ là điều không tránh khỏi.   

 

Một nhà nước mạnh là một nhà nước không làm to những điều quá nhỏ.

 

Công lý - Con đường hành trình tố tụng

 

Việc bắt dân oan, nhà báo, giáo dân là việc dễ. Nhưng sau việc bắt là một khung pháp luật đang ngày càng hoàn thiện với những đòi hỏi càng cao trong xu hướng chung về xây dựng một nhà nước pháp quyền.  

 

Khởi tố vụ án là giai đoạn đầu tiên của một tiến trình gồm năm bước gồm : Khởi tố - Điều Tra – Truy tố - Xét xử - Thi hành án. Khởi tố là vạch xuất phát của một đường đua dài trong tiến trình kiếm tìm công lý giữa một bên và luật sư và một bên là công tố mà đích đến là phán quyết công minh của một quan tòa trong một hệ thống tư pháp độc lập.

 

Ở Thái Hà, gần 300 người cùng tham gia đập bỏ một đoạn tường ọp ẹp dài 6m mà họ cho là được xây một cách bất hợp pháp trên mảnh đất bị chiếm dụng trái phép vừa bị Nhà nước tịch thu thì những tranh luận về mặt pháp lý đối với tội « hủy hoại tài sản » càng trở nên phức tạp và lý lẽ luận tội của công tố chắc chắn sẽ trở nên mong manh.

 

Việc giáo dân khiếu nại đất đai suốt 12 năm nay không có trả lời và đã tập trung cầu nguyện ôn hòa thì khó có thể  gọi là ‘gây rối trật tự công cộng’ nếu như Nhà nước không muốn bị mang tiếng đàn áp tôn giáo. Càng không thể có chuyện đó khi kể từ ngày việc đàn áp xảy ra, càng ngày càng đông người hơn tiếp tục đến để cầu nguyện như họ đã từng làm hàng ngàn năm nay.

 

Các cán bộ cảnh sát điều tra cũng đang chịu áp lực rất lớn từ cơ quan ngôn luận. Sự xúi giục và kích động mạnh mẽ của truyền thông có thể vô tình đẩy họ đến những tội phạm tư pháp khác mà chính họ có thể cũng không giữ được mình. Gương Thiếu tướng và Thượng tá cùng ngành với họ vừa bị ‘bắt ngược’ là nhãn tiền.

 

Và rồi cuối cùng, trên con đường kiếm tìm công lý bao điều phức tạp nữa sẽ tiếp tục xảy ra. Khi những giáo dân cùng các linh mục đã dám đến tận đồn công an đòi thả những người bị bắt và hàng ngàn người vẫn tiếp tục kéo đến Thái Hà mỗi ngày để cầu nguyện cho ‘những anh em đang bị giam cầm’ thì không ai có thể lường được là có mấy trăm ngàn người công giáo sẵn sàng đến dự khán một phiên tòa mà chắc chắn sẽ phải xử công khai theo luật.

 

Đó là một thách thức không nhỏ của tất cả các bên trên con đường kiếm tìm công lý.

 

Lòng dân đã khác – Cần một cách tiếp cận mới !

 

Trong vụ biểu tình chống ‘Tam Sa’, sinh viên đã không gây rối. Họ không có một hành động nhỏ nhặt nhất nhằm tấn công sứ quán Trung Quốc ngay trước mắt mình cho dù những cơn thịnh nộ trong lòng trở nên hết sức khó kiềm chế khi mà tiếng gọi của tổ quốc bị xâm lăng vang trong từng tiếng hô ‘đả đảo tam sa’.

 

Trong vụ Thái Hà và Khâm sứ, không một giáo dân, tu sỹ nào ham muốn một chiếc ghế trong phường Quang Trung hay Hàng Trống. Họ không trèo tường hay đập phá một cơ quan công quyền để ‘cướp chính quyền’ mà họ gây áp lực bằng sự hiện hữu để đòi hỏi pháp luật phải được thực thi thông qua hình thức cầu nguyện ôn hòa.

 

Họ không đe dọa chính quyền bởi vậy thực tế thì không có gì đáng phải quan tâm lớn. Việc đổ một bức tường là điều khác xa so với việc “đổ chính quyền” ở một cấp dù là nhỏ nhất. Việc ‘dọn đường dư luận’ bằng truyền thông sai sự thật để gây áp lực tiến hành một việc quy trình tố tụng theo luật xem ra đã rất lạc hậu.

 

Sự hiện hữu một cách có thực những khối dân chúng to lớn trong việc bày tỏ chính kiến của mình sẽ phải trở thành bình thường. Việc đó đặt ra 2 lựa chọn : Hoặc là tiếp tục đổi mới, mở rộng không gian dư luận, không gian chính trị xã hội cho dân chúng sinh hoạt. Hai là tiếp tục đàn áp và bắt bớ. Giống như một cái bu nhốt gà. Đàn gà đang dần dần lớn lên. Cái bu nhốt gà mà Đảng cầm trong tay đã trở nên quá chật chội. Hoặc phải nới rộng ra hoặc duy trì nó với những vi phạm và cọ xát ngày càng tăng.

 

Trong 2 cách tiếp cận đó, cách thứ nhất là khôn ngoan.

 

Việc nghiên cứu người Khách ngày mai (10/9/08) đến thăm Việt Nam, ông John D, Negroponte sẽ cho ta cách tiếp cận tốt khi ông ấy vừa có thể đảm trách Giám đốc cơ quan Tình báo CIA lại có thể là một Thứ trưởng Ngoại giao với những kỹ năng ngoại giao đáng khâm phục. Ứng cử viên John Mc Cain với  ‘cách tiếp cận đa đảng’ trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ sắp tới cũng cho phép Việt Nam ta có cách nhìn nhận đa nguyên và giải quyết mọi việc trong ôn hòa hơn.

 

Xét cho cùng những phản ứng lúng túng vừa rồi chỉ là một phản ứng tâm lý của một Đảng cầm quyền không có cảm giác là mình ‘chính danh’. Bởi vậy, giải pháp chính vấn đề là tìm lại sự chính danh, thông qua những cởi mở về chính trị, xã hội, hòa hợp dân tộc, quên đi quá khứ, vượt qua hiệu ứng tâm lý trấn áp hoặc xù lông tự vệ của một con nhím trước những khối quần chúng rộng rãi là cách thức duy nhất để Việt Nam tiếp tục phát triển trong đoàn kết. Nếu không quà tặng Đảng Cộng sản để lại cho thế hệ sau không phải là một đất nước Việt Nam an bình mà là một thùng thuốc súng.

Thursday, July 10, 2008

DU LỊCH - CHÍNH TRỊ - TÔN GIÁO


Đang làm báo cáo chiến lược phát triển ngành Du lịch.

Lọ mọ tìm thấy một bài báo viết về du lịch đầy những nghịch lý logic.

Từ đó lại ngồi suy nghĩ sâu hơn. Nhớ người bạn là Quan chức cộng sản có một trang trại đẹp, có lần rủ mình về ngồi ở đó nói chuyện chính trị. Giữa tiếng gió ngàn hoang sơ, ông ấy bảo nhớ tiếng ồn của phố, nhớ thuốc lá 3 số và bia lạnh.

Lại miên man suy nghĩ về độc tài và dân chủ. Cái nào là nền của cái nào. Có lần một linh mục đã nói với mình: “Cộng sản là cái roi Thiên Chúa đưa xuống loài người quất vào chúng ta, răn đe chúng ta đi theo đường Thiên Chúa”.

Nhưng dù sao, bài viết sau đây về du lịch, nhờ sự tự do về ngôn luận đã cung cấp cho chúng ta một cách nhìn khác, khá thú vị.

_____________________________________________

Du lịch là ích kỷ!



Du lịch chân chính không phải là những anh bụng phệ hàng tuần kéo nhau ra Tuần Châu ăn hải sản, uống bia và “du lịch”, không phải những cô váy ngắn bốt cao xúm xít quanh đống thổ cẩm “lạ mắt” dưới gầm nhà sàn Bản Lác, không phải một đại đội các bác đội mũ lưỡi chai giống nhau, chen chúc chạy đằng sau một anh cầm cờ trên cầu Thê Húc. Như vậy là nghỉ dưỡng,là dưỡng gìa,hay cực đoan hơn : là đú đởn!


Du lịch chân chính là những người lữ hành không mỏi trên con đường ít dấu chân người qua, là những kẻ lang thang ngày qua ngày trên những dãy núi trùng điệp, những khu rừng già ẩm ướt hay những bản làng hẻo lánh, là những kẻ thích tự làm khổ mình, thích đẩy mình vào tình thế khó khăn nguy hiểm, chẳng để làm gì ngoài việc để thoả mãn cái “tôi thích thế” của họ. Họ thực chất là những kẻ ích kỷ, dù vô tình hay cố ý, theo cách này hay cách khác, họ đúng là những kẻ ích kỷ. Họ chỉ muốn “sướng” cho bản thân họ. Họ mò mẫm đến những bản làng xa xôi, thích thú ngắm nhìn những con người thiểu số sống một cuộc sống của cả thế kỷ trước. Họ vui mừng vì được chứng kiến cái hoang sơ và nghèo khó, nơi người ta ăn những thứ lá cây vốn chỉ dành cho gia súc, uống thứ nước chưa được xử lý do mấy cây tre ẩm mốc mang về, nơi mà mọi đồ đạc trong nhà đều méo mó, đen đúa và cáu bẩn. Tất nhiên họ chẳng phải là nguyên nhân của sự nghèo khó đó, và có thể họ cũng chẳng muốn người ta phải nghèo khổ như thế.

Nhưng, thật trớ trêu, họ lại cảm thấy khó chịu khi thấy cuộc sống của người ta khấm khá hơn. Họ thất vọng khi thấy mấy em Hmông váy áo “dân tộc” thế mà lại ngồi xem Ưng Hoàng Phúc hát trên VCD. Họ cau mày khi thấy trên mấy vách tường gỗ của ngôi nhà sàn được dán đầy những ngôi sao ca nhạc cả Việt Nam và Hàn Quốc. Họ muốn mọi thứ ở đó đều phải mang một vẻ ban sơ, thô mộc, original. Họ muốn mọi thứ ở những ngôi làng đó đều như phải được sinh ra từ đất, không plastic, không điện tử, không song. Nói một cách cực đoan hơn, họ không muốn những ngôi làng hẻo lánh mà họ đã khó nhọc tìm đến lại bị xâm lược bởi những thứ văn minh của cái đám người Kinh dưới kia, dù cho những cái mà họ gọi là “lai tạp vớ vỉn” đó chính là dấu hiệu của một cuộc sống vật chất đang được cải thiện, là những thứ để làm nông đi cái hố ngăn cách ngược xuôi.

Có những khi họ xa cơ lỡ bước trên bước đường lượt phượt, họ đi cầu cứu sự giúp đỡ của những người thiểu số đó. Họ được một gia đình nghèo khó nhưng tốt bụng dành cho một chỗ sạch nhất, ấm nhất trong nhà để ngủ, được ăn cơm với những quả trứng gà quý giá mà ngay cả đứa con suy dinh dưỡng của họ cũng không được ăn, uống những thứ rượu vốn được gia chủ cất sâu trong gậm giường. Những người nghèo khó tốt bụng đó xứng đáng được đền bù về mặt vật chất, họ nghĩ vậy. Thậm chí, theo cách nghĩ thông thường, nên được trả công hậu hĩnh hơn so với mức cần thiết. Họ biết rằng thêm 50.000 với họ không thành vấn đề gì nhưng với cái gia đình nghèo khổ kia thì đó là một món quà lớn mà có thể làm cho bà chủ nhà vui mấy ngày. Lương tâm họ muốn làm việc đó, nhưng họ lại không làm. Họ chỉ trả công cho gia đình ấy một cách rất rất chừng mực, chừng mực ở mức mà tất cả những người đi bụi khác đều chấp nhận được, và gửi kèm một lời cám ơn chân thành và very big. Họ lo ngại rằng một số tiền lớn hơn có thể sẽ làm “hư” cái gia đình ấy, rồi không lâu sau sẽ hư cả cái bản ấy, rồi những người khác đến sau họ sẽ phải chịu cảnh đối xử “dịch vụ”, “mất hết tình người”. Đây quả là một sự ích kỷ đầy tinh thần trách nhiệm, một sự ích kỷ có tổ chức.

Sunday, July 06, 2008

KHỦNG HOẢNG VÀ TIẾN HÓA HÒA BÌNH


KHỦNG HOẢNG VÀ TIẾN HÓA HÒA BÌNH

Luật sư. Lê Quốc Quân.

Thách đố trước mắt đối với thế giới là 2 cuộc khủng hoảng năng lượng và lương thực. May thay đó cũng là 2 thứ mà Việt Nam được Trời phú cho rộng rãi.

Với trữ lượng dầu mỏ dự kiến khoảng 1,2 tỷ m3 và là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 triên thế giới, Việt nam đã có thể an nhiên tự tại, mỉm cười qua những cuộc khủng khoảng đang làm cả thế giới đau đầu.

Hàng loạt mỏ dầu vẫn tiếp tục được đẩy mạnh khai thác và tiềm năng dầu khí tại các bể trầm tích Sông Hồng, Nam Côn Sơn, Vũng Mây và mới đây nhất là Mỏ Tê Giác Đen...với trữ lượng xác minh được ngày càng cao lẽ ra đã cho phép Việt Nam “thờ ơ” với những kỷ lục giá dầu mới liên tục được lập ra.

Hai vùng đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long cùng với dải đồng bằng ven biển đã giúp cho ông Cha ta nhiều đời nay được no ấm đã có thể đem lại nhiều giá trị cho Việt Nam trong cơn khủng hoảng hiện nay.

Nhưng đập vào mắt nơi đô thị là sự ngông nghênh chơi trội, là hoa quả, lương thực, thực phẩm ngoại tràn ngập các sạp hàng và siêu thị với giá đắt đỏ, phía sau là vùng nông thôn rộng lớn với số đông dân nghèo đang đối diện với nguy cơ thiếu đói và một môi trường xã hội với những thiết chế cộng đồng làng xã đang ngày càng rạn vỡ.

Tháng 6 – thời điểm Chính Phủ khống chế tăng giá xăng dầu, sắt thép…- bắt đầu hết. Dự án kinh tế nặng mùi chính trị Dung Quất lại nhùng nhằng bước sang năm chậm thứ 8 so với kế hoạch ban đầu trong khi những thùng dầu thô vẫn cứ tiếp tục nối đuôi nhau chạy khỏi phao số không.

Tiền thuế của dân vẫn tiếp tục đổ vào bù lỗ cho các tổng công ty xăng dầu với niềm tin mong manh về khả năng kìm chế giá lạm phát.

Rừng vẫn tiếp tục bị phá làm ruộng đồng lũ lụt liên miên.

Đất đai cằn khô thiếu dinh dưỡng trong khi hàng loạt nhà máy sản xuất phân bón đều chậm tiến độ xây dựng hoặc tồn tại mang tính biểu tượng. Đặc trưng nhất là nhà máy Phân Đạm Hà Bắc – Một doanh nghiệp chết dở đang ngấu nghiến “nhai” tiền thuế của dân để vênh váo tồn tại vì nó là biểu tượng cho tình hữu nghị Việt- Trung do Trung Quốc xây dựng từ năm 1959.

Ruộng ngoại ô hoang hóa vì quy hoạch treo. Nhiều cánh đồng phì nhiêu đã được hệ thống “cò dự án” kết lại thành “đường dây”. Trong thực tế chính các trưởng thôn tham nhũng lại là những “nhà quy hoạch” đầu tiên, nối tiếp bằng những chữ ký thiếu trách nhiệm và đầy mùi ngân kim của Xã, Huyện và lên Tỉnh, ào ào cướp đất nông dân, biến ruộng lúa thành những khu công nghiệp thô lậu xây dựng vội vàng, vắt kiệt sức khỏe của những trai thanh gái tú Việt Nam tuổi đương thì.

Với một quốc gia trẻ 85 triệu dân đang tuổi lớn khát khao tiêu dùng, tình trạng lạm phát và nhập siêu, trong đó có nhập siêu xăng dầu, liên tục phá vỡ các giới hạn cho phép chắc chắn sẽ đặt Việt Nam trước những nguy cơ của khủng hoảng, buộc chúng ta phải đặt vấn đề về khả năng cung cấp sản phẩm cho dân chúng và suy nghĩ về công cụ quản lý chính sách vĩ mô thông qua phát triển bền vững.

Phát triển bền vững và cơ hội trong khủng hoảng:

Đã đến lúc chúng ta phải hiểu rõ những con cá vẫn có thể lớn nhanh và tươi ngon, những bông lúa vẫn trĩu hạt với chất lượng và giá cao mà không cần phải tiêu tốn nhiều năng lượng, vắt kiệt tài nguyên thiên nhiên và hủy hoạt môi trường.

Người Nhật đã có thể phá bỏ những vùng trồng lúa để xây dựng nhà máy công nghiệp với giá trị tạo ra cao gấp nhiều lần nhưng họ vẫn để lại nhiều cánh đồng lúa mênh mông bởi nông nghiệp đã trở thành nguồn cảm hứng thiên nhiên, của du lịch và văn hóa cộng đồng.

Thực tế lịch sử phát triển cho thấy có nhiều con đường khác nhau để đi đến một giá trị phát triển bền vững. Nông sản có thể tạo ra được những giá trị lớn và người nông dân vẫn “khỏe mạnh tới tận già” bỏ xa những thu nhập “còm” ở một nhà máy công nghiệp nhỏ nơi mà thời giờ nghỉ ngơi, ánh sáng, chỗ ngồi, dinh dưỡng bữa ăn cho công nhân đều thiếu thốn một cách tệ hại.

Nơi mà sau 5 năm những “cối xay thịt” đó đã trả về cho quê hương những chàng thanh niên ốm yếu và phụ nữ trẻ với vô vàn bệnh phụ khoa. Họ bị vắt kiệt sức lao động ở lứa tuổi đang sung sức nhất bằng những thao tác hết sức đơn thuần “phổ thông” trong những nhà máy của những Ông chủ có tầm nhìn ngắn hạn và đầu tư vào Việt Nam chỉ là chụp giật.

Công nghiệp hóa là hết sức quan trọng và cần thiết. Nó đã đưa nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…đến bến bờ phát triển một cách nhanh chóng nhưng nó phải thực sự bắt đầu một cách có bài bản xuất phát từ lợi ích quốc gia chứ không phải manh mún và gượng ép xuất phát từ những lợi ích cá nhân của quan chức hoặc vùng miền.

Qủa thật, khi các tập đoàn lớn và nghiêm túc, có hàm lượng chất xám cao, vì những quan ngại chính trị đối với một quốc gia đang ngập ngừng trong đổi mới, chưa thực sự bước vào đầu tư thì những nhà đầu tư “cò con” đã kịp vào, cấu kết với tư bản đỏ, xé nát quy hoạch và ăn và chơi loạn xị ngậu trên mảnh đất Việt Nam này.

Diễn tiến hòa bình là sự liên tục thay đổi tư duy

Vốn hầu hết xuất thân từ nông dân, nhìn cây lúa, con cá lớn dần lên, lẽ ra các nhà chính trị cần phải hiểu thế nào là tiến hóa và phát triển bền vững để có tư duy khoa học, tận dụng các lợi thế cạnh tranh hầu đem lại một giá trị phát triển lớn hơn cho chính Nhân dân Việt Nam.

Về chính trị, đã đến lúc các nhà lãnh đạo đừng đem học thuyết vĩ đại “này nọ” hoặc những con “ngoáo ộp” ghê gớm đâu đó ra hù dọa dân chúng và những công chức yêu nước cấp tiến trong bộ máy của mình khi những điều tự nhiên như hơi thở là cơm ăn áo mặc, quyền được nói, được nghe, được cầu nguyện vẫn tiếp tục bị hạn chế.

Nhiều vị lãnh đạo đã rất phản động khi gán ghép những vấn đề như dân chủ, nhân quyền là một phần của “âm mưu” diễn tiến hòa bình mà quên rằng sự “tiến hóa hòa bình”[1] là điều tất yếu đang xảy ra liên tục trong chính bộ não chúng ta nếu chúng ta còn là một cơ thể sống.

Cần phải hiểu rằng, tự ngàn xưa và đúng với tất cả các loài, quan trọng nhất của sự tiến hóa là tiến hóa về tư duy. “Phát triển bền vững” chính là bền vững trong tiến hóa tư duy. Ngược lại với điều đó là phản động.

Về kinh tế, cần từ bỏ lý thuyết chạy theo tăng trưởng một cách đơn thuần và niềm đam mê “vai trò chủ đạo” của kinh tế Nhà nước bởi điều đó có thể dẫn rất nhanh đến sự phá sản của toàn bộ nền kinh tế do phải tập trung quá nhiều nguồn lực vào phát triển các tập đoàn tốn kém và bụi bặm.

Mặt khác sự vội vàng để chiếm lĩnh vai trò “định hướng” có thể gây ra nhiều hậu quả tai hại khác đối với môi trường sống của cả nước trong tương lai. Ô nhiễm môi trường và tài nguyên cạn kiệt là cái giá mà sau này con cháu sẽ phải trả có thể rất lớn.

Trước đây nhờ tiến hóa tư duy mà Việt Nam chúng ta từ đói ăn đã thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Trước đây cũng nhờ tiến hóa tư duy mà hợp tác khai thác dầu khí với các quốc gia ngoài Liên Xô nên hôm nay ta có những mỏ dầu khai thác có tỷ trọng lợi nhuận lớn hơn hẳn. Tóm lại, nhờ tiến hóa hòa bình mà Việt Nam ta đã từng vượt qua “tiểu khủng hoảng”

Vậy thì giải pháp tiếp theo của chúng ta hôm nay để đối mặt và vượt qua các cuộc “đại khủng hoảng” không có gì khác ngoài việc tiếp tục tiến hóa hóa bình, tiếp tục đẩy mạnh cải cách, tiếp tục các di sản của những người đi trước, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm đưa đất nước đi lên dù có bị “búa” đập và “liềm” cắt. Muốn làm được vậy, trước tiên các nhà lãnh đạo cần phải tự “tiến hóa hòa bình”.


[1] Tác giả dịch chữ “Peaceful Evolution” là – “Tiến hóa hòa bình” trong khi hầu hết các đài báo Việt Nam đều dịch là “Diễn biến hòa bình”. Có thể xem thêm Darwin Evolution Theory – Học thuyết tiến hóa của Darwin.

Sunday, June 29, 2008

VỀ NHỮNG CÂY CẦU

NHỮNG CHIẾC CẦU

Chương trình thời sự gần đây cho thấy những cây cầu yếu đang tiếp tục khống chế từng đoàn xe quá trọng tải phải dừng lại trên đường. Lẽ ra cầu phải giúp cho sự đi lại được dễ dàng và thúc đẩy sự giao lưu giữa các “eo” bờ nay “cầu” đang trở thành điểm thắt nút bóp nghẹt nhiều doanh nghiệp và làm chậm chân nhiều công trình. Điều đó thể hiện sự bất cập và tầm nhìn ngắn hạn của các nhà lập kế hoạch phát triển giao thông.

Nhưng nghiêm trọng hơn là khi những nhà chính trị - những người lập kế hoạch phát triển xã hội- không tiên liệu được những chiếc “cầu” trong cuộc sống. Trong khi những cây cầu có cấu trúc vật lý không được thêm mới và những cái cũ đang trở nên già nua một cách nhanh chóng do sức nóng và sức ì của nền kinh tế, người dân tiếp tục phải qua rất nhiều “cầu” ở những nơi không phải “cầu”. Để được mua nhà, nhập hộ khẩu, xin giấy phép kinh doanh có điều kiện…người dân đều phải qua “cầu” dưới vô vàn hình thức và do nhiều tổ chức và cá nhân cung cấp.

Trầm trọng hơn là khi nhập viện, nhập trường để hưởng dịch vụ y tế và giáo dục là điều vốn đương nhiên con người phải được hưởng, những quy định thủ tục về “đúng tuyến” đang làm người dân liêu xiêu bước vội chân qua bất cứ chiếc “cầu” nào có được. Đó chính là những chiếc “cầu vượt”. Trong một xã hội mà nhân dân phải qua “cầu” để được tiếp cận với quyền được chữa bệnh và quyền được học hành, ở một thời kỳ mà họ phải trả phí hoàn toàn cho các dịch vụ đó, là điều không thể chấp nhận được. Có những người, do tin vào thủ tục được minh thị hoặc do tiếc tiền, nên đã cố tình “vượt cầu”, đặc biệt khi “cầu” đó là do chính người trong cơ quan hành chính giới thiệu hoặc cung cấp thì coi như “đi đứt”. Khi đó, hàng loạt thủ tục nhiêu khê sẽ được viện dẫn tối đa để dẫn dắt người dân đi vào các ngóc ngách đầy rẫy sự tốn kém và bực tức.

Vì những chiếc “cầu vượt” này mà biết bao nhiêu dự án đã trở thành “Cầu treo”. Trong khi các doanh nghiệp có năng lực vất vả chạy ngược xuôi tìm “đỏ con mắt” mà không ra được thuê đất hoặc tiếp cận tín dụng thì nhiều DN khác vốn không có năng lực tiếp tục nhận được những ưu đãi và những kênh tín dụng riêng để cuối cùng những DN đó lại biến các dự án thành “cầu trượt” “cầu treo” hoặc tự mình thành những “chiếc cầu” để cho những DN tư nhân có điều kiện phải trả thêm chi phí và bước qua.

Những chiếc cầu yếu không đủ trọng tải đang thực sự làm tắc ngẽn giao thông, ứ đọng hàng hóa và gây nhiều khó khăn cho các DN. Nhưng khó khăn nhiều hơn cho nhân dân chính là các “cây cầu” quan hệ và luồn lách tràn lan hàng ngày. Để khắc phục tình trạng đó không có gì khác ngoài việc thay đổi tư duy của công chức, ý thức rõ về một hành chính phục vụ, giảm bớt sự vô cảm, minh bạch hóa chính sách và trên hết là tôn trọng con người.

Giống như mạch máu trong cơ thể đang chảy, những chiếc cầu yếu đã trở thành một “cục máu đông” tạo nên khó khăn cho nền kinh tế và là nguy cơ gây bệnh chết người cho cơ thể sống. Tất cả đó đều là những việc lớn mà nếu không có sự “xét nghiệm” một cách nghiêm túc, bệnh sẽ phát tác và “trận sẽ vỡ”.

Wednesday, June 18, 2008

DI SẢN PHẢI VƯỢT QUA

DI SẢN PHẢI VƯỢT QUA

Luật sư: Lê Quốc Quân

Ông Võ Văn Kiệt qua đời để lại một di sản nặng nề cho những người lãnh đạo ở lại.

Di sản lớn nhất chính là vấn đề phản biện xã hội và hòa giải dân tộc, điều ông chỉ dám nêu ra sau khi đã về hưu nhưng cũng đủ làm xúc động và hy vọng cho hàng triệu người. Chính những đồng chí đi sau ông hoặc sẽ phải vượt qua những cải cách ông có được hoặc sẽ thấy nợ với dân tộc về những điều ông vẫn thiết tha yêu cầu vào những ngày cuối đời.

Vào năm 1990, khi chưa đầy 20 tuổi. Tôi đã nghĩ ông Võ Văn Kiệt là con người cơ hội. Khi đó, Ông đã chọn theo cánh thiên tả của một thế trận 5-3-5[1] trong lúc vận mệnh của quốc gia đang cực kỳ mong manh vì có thể xoay theo Liên Xô hoặc theo Trung Quốc.

Cục diện đất nước đã có thể rất khác xa bây giờ nếu như ông Kiệt ủng hộ quan điểm của Uỷ Viên Bộ Chính Trị, Bí thư trung ương đảng lúc đó là Trần Xuân Bách.

Nhưng Không, Ông đã thế chân vào vị trí thủ tướng của người mà sau Đại hội đảng đã được bầu làm Tổng Bí Thư. Ông đã song hành cùng Tổng Bí Thư Đỗ Mười và Chủ tịch nước suốt 2 nhiệm kỳ trước khi cùng nhau trở thành cố vấn cho ban lãnh đạo mới. Nhân dân, qua thông tấn xã vỉa hè, đồn đoán về một bộ ba: Mười - Anh - Kiệt với vô vàn điều thắc mắc cần cần hóa giải.

Tất nhiên, vào thời điểm đó tôi cho rằng Ông Kiệt đã có tác động làm giảm sự phát triển của dân tộc về dài hạn khi không dám cổ súy vấn đề đa nguyên đa đảng trong khi mà một người phụ trách chính về lý luận của Đảng đã mạnh dạn khởi xướng và quảng bá. Tất nhiên, nếu ông làm điều đó, biết đâu, Ông cũng có thể có một kết cục khác khốc liệt hơn 100 ngày ngồi tù của tôi.

Nhưng rồi ông lên làm thủ tướng.

Suốt 2 nhiệm kỳ làm thủ tướng Ông đã đưa ra những quan điểm đổi mới mạnh mẽ. Ông đã thổi luồng gió mới, canh tân một phần bộ mặt đất nước với bè bạn Năm Châu. Nhiều nhà tư bản phương Tây coi Ông Kiệt là một kiến trúc sư và là lãnh đạo của phong trào đổi mới ở Việt Nam. Ông khởi đầu cho ít nhất 4 nhiệm kỳ người Miền Nam liên tiếp nắm giữ vị trí Thủ Tướng và tiếp tục còn ảnh hưởng nhằm mở rộng quyền lực chính trị ngay trong lòng Hà Nội.

Để đạt được điều đó ông đã biết dựa vào sức dân. Không có con đường nào khác ngoài việc ông nâng cao tinh thần dân tộc, mở cửa ra thế giới bên ngoài, thúc đẩy lòng tự hào và tình đoàn kết anh em trong ngoài. Thời kỳ ông làm Thủ tướng này cũng chính là giai đoạn đầy khó khăn, xen lẫn giữa mở và khép, giữa cải cách dân chủ và duy trì quyền lực của những nhóm bảo thủ trong Đảng Cộng sản. Trong khi Ông là người mong muốn đối thoại sòng phẳng với những nhà bất đồng chính kiến thì chính Ông cũng đã đặt bút ký Nghị định 31/CP cho phép giam giữ người bất đồng chính kiến đến 2 năm mà không cần xét xử.

Càng hiểu nhiều hơn về cơ chế tổ chức quyền lực Nhà nước Xã hội Chủ Nghĩa tôi càng dễ thông cảm và tôn trọng ông hơn. Vì ông có cái khó riêng của của những người trong cuộc.

Rồi ông về hưu.

Từ giã chính trường ông vẫn đau đáu với những vấn đề quốc kế dân sinh.

Mặc dù tuổi cao, những thao thức của Ông cho đất nước đáng để cho những người đồng trang lứa phải thấy hổ thẹn. Ông muốn tăng tốc cải cách, ủng hộ báo chí, bảo vệ dân nghèo, xem xét lại các vấn đề lớn của quốc gia…. Ông thấy rõ dù đất nước đã nối liền một dải, nhưng lòng người còn ly tán, việc hòa hợp dân tộc vẫn còn đầy cam co.

Lòng kính trọng của tôi đối với Ông chỉ có thực sự từ khi tôi nghe một phỏng vấn của Ông trên BBC và hàng loạt bài ông viết về Hòa hợp và Hòa giải dân tộc đăng trên báo Tuổi trẻ.

Nhiều điều ông nói là cho chính gia đình ông nhưng tôi thấy dáng dấp của dòng tộc mình nơi mà đến ½ gia tộc đã đi vào nam vào năm 1954. Ông nói về một người mẹ có 2 người con thuộc hai chiến tuyến hy sinh giờ cùng nằm trên một bàn thờ, tôi nhớ rằng Bố mình cũng đã từng đi bộ đội để giết những “Ngụy quân” trong đó có con của ông Bác là lính Việt Nam Cộng Hòa.

Tất nhiên đất nước ta có những khoảng cách không dễ xóa nhòa và tôi là một bằng chứng.

Sau khi nghe tôi thuyết trình ở Mỹ, có người gọi tôi là thân cộng để rồi, khi về Việt Nam những người cộng sản gọi tôi là chống cộng. Tôi chống ai, giữa một đất nước trải dài, khác biệt và chia cắt cả về địa lý lẫn tư duy. Một đất nước mà từ những năm 1940s Ông nội tôi đã dạy bài “Hận Sông Gianh” cho Bố tôi, và hôm nay con tôi vẫn nghe cô giáo lớp một gọi những người anh em bên kia chiến tuyến là “quân ngụy”

Thế nhưng Ông Võ Văn Kiệt cho ta nhiều hy vọng.

Ông đã từng nói: "Tổ quốc là dân tộc Việt Nam mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay bất cứ phe phái nào cả". Người mẹ kia vẫn thờ 2 con trên một bàn thờ. Bố tôi và người Lính Việt Nam cộng hòa kia vẫn là Con chú con Bác.

Tôi đã từng đi dọc bức tường Arlington ghi tên những người Mỹ chết và mất tích trong chiến tranh Việt Nam và cũng nghĩ về việc Ông mong tìm được xác của Vợ và 2 con bị bắn chìm trên chiếc tàu Thuận Phong trên trên sông Sài gòn vào năm 1966.

Càng đến lúc ông gần chết, tôi – người bất đồng chính kiến - càng cảm thấy gần gũi với tư tưởng của Ông hơn bao giờ hết.

Và đó cũng là di sản mà những người cầm quyền đương thời phải biết vượt qua.



[1] Bên cải cách, theo sự sắp xếp của tác giả, bao gồm: Bách – Thạch – Thọ - Khuê –Công. (Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch, Mai Chí Thọ, Đoàn Khuê, Võ Chí Công ). Phái trung dung ở giữa là: Linh – Hùng - Tâm (Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng và Nguyễn Đức Tâm ). Còn bảo thủ bao gồm: Mười – Anh –Kiệt – Bình –Nguyên (Đỗ Mười – Lê Đức Anh – Võ Văn Kiệt – Nguyễn Thanh Bình – Đồng Sỹ Nguyên ).

Tuesday, March 18, 2008

THÁCH THỨC HIỆN HÌNH !!


Đã gần 1 năm trôi qua, Bài viết sau đây của Trần Đông Chấn vẫn còn nguyên giá trị.

Không những thế, những dự báo xuất sắc đó ngày càng hiện hữu trong lòng xã hội Việt Nam với hàng loạt vấn đề về kinh tế vĩ mô. Nhân dân trách "quan trí" thấp, lãnh đạo "đầu đất" thì ít mà trách sự bất lương của tập đoàn lãnh đạo lấy một học thuyết vô thần làm kim chỉ nam thì nhiều.
Đất nước Việt Nam và Nhân dân ta còn phải đối mặt với vô vàn khó khăn trong những năm tới.

Tháng 3 giáp hạt đang đến, Nhiều tỉnh thành nông dân sẽ đối diện với một cái đói khủng khiếp sau đợt rét kỷ lục vừa qua.

Xin trích lại bài viết để tất cả cùng tham khảo và so sánh với một số biến cố xã hội gần đây như chứng khoán sụp đổ, lạm phát tăng cao, tiền đô mất giá, bất động sản đóng băng, nhân dân đói và xe ô tô xin nhập nhiều với một mức thâm thụt thương mại lớn chưa từng có.......

Cnh báo nhng nguy cơ quc gia

Nhìn lại bài viết cảnh báo từ năm 2007

Tác giả: Trần Đông Chấn

Bài viết từ blog Trần Đông Chấn vào tháng 4 năm 2007

Sắp đến ngày 30 tháng 4 lịch sử, đại hội X của đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã kết thúc được một năm, cũng là lúc Quốc hội khóa 12 sắp ra đời. Và cũng là lúc mà đất nước đang đứng trước những nguy cơ thực sự đáng lo ngại và báo động.

Những hình ảnh tốt đẹp được liên tục nhắc tới trên các phương tiện tuyên truyền trong cả nước sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới làm người ta quên đi những nguy cơ quốc gia đang chực chờ. Những lời khen ngợi của các tổ chức nước ngoài đối với thành tích tăng trưởng kinh tế đang khéo léo che đậy những kế hoạch thôn tính Việt Nam đầy tham vọng. Nhưng nguy hiểm hơn là chính những lời đó được dùng như những minh chứng để củng cố uy tín của chính quyền.

Hệ thống quốc tế mới

Ngày xưa các nước mạnh vất vả mang vũ khí và tính mạng của chiến binh đi xâm lấn các nước yếu hơn để khai thác nguyên liệu và nhân công rẻ mạt, áp đặt thị trường và hủy hoại các nền văn hóa bản địa để khẳng định văn minh vượt trội của mình. Ngày nay họ chỉ cần tác động vào con người bằng những động lực tự nhiên để người ta tự nguyện mở cửa thị trường và hoan nghênh những nhà đầu tư sử dụng lao động rẻ, tài nguyên sẵn có; làm người ta vô tình từ bỏ bản sắc của mình để được xem là văn minh. Đó không còn là những hoạch định lý thuyết, nó đã trở thành một hệ thống quốc tế mới, đang hiện hữu và được gọi là toàn cầu hóa. Xu thế của nó là không thể đảo ngược cũng giống như không thể ngăn cản sự phát triển khủng khiếp của hệ thống thuộc địa trước đây.

John Perkins đã thú nhận như sau trong quyển Lời thú tội của một sát thủ kinh tế: “Ngày nay chúng ta có thể thấy những kết quả mà cái hệ thống này sản sinh ra bắt đầu quay cuồng. Các vị lãnh đạo ở những công ty được kính trọng nhất đang thuê nhân công với mức lương gần như cho nô lệ để làm quần quật trong những điều kiện làm việc phi nhân đạo tại những xí nghiệp chuyên bóc lột công nhân hết sức tàn tệ ở châu Á. Các công ty dầu lửa cố tình đổ chất độc hại xuống các dòng sông trong vùng rừng rậm nhiệt đới, giết chết con người, động vật và thực vật một cách có chủ ý, và hủy diệt các nền văn hóa cổ xưa.” (trang xiii).

Vận mệnh của mỗi quốc gia dân tộc chậm phát triển trong những giai đoạn lịch sử như vậy tùy thuộc vào cách ứng xử của chính quyền nước họ trước những xu thế quốc tế đó. Chọn cách chủ động theo trào lưu để khai thác những thế mạnh và cơ hội của nó, chấp nhận thách thức và hy sinh quyền lợi cá nhân để thành kẻ thôn tính như trường hợp của nước Nhật hay là thụ động, co cụm, bảo thủ và tư lợi hài lòng với chính quyền bảo hộ bù nhìn, nhìn đất nước mình bị thôn tính, dân mình bị bóc lột như trường hợp của đa số các nước chậm tiến cùng thời với Nhật lúc đó. Những bài học này vẫn còn mang tính thời sự cho giai đoạn lịch sử hiện nay.

Vị trí của Việt Nam

Đất nước Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt như vậy. Dù đã chọn con đường hội nhập nhưng chúng ta chỉ chấp nhận nó như trào lưu kinh tế mà không nhìn nhận các tác động khốc liệt của nó trên tất cả các khía cạnh từ xã hội đến chính trị để xây dựng các chiến lược và giải pháp toàn diện. Sự mất đồng bộ này không chỉ tạo ra các vấn đề xã hội mà còn sinh ra những lỗ hổng kinh tế rất nguy hại. Chúng được dùng như gót Achile để điều khiển các quyết định vĩ mô có lợi cho thành phần kinh tế nước ngoài. Nếu các yêu sách này không đạt được kết quả thì lỗ hổng kinh tế sẽ biến thành khủng hoảng kinh tế, các vấn đề xã hội sẽ trở thành rối loạn xã hội và cuối cùng dẫn đến biến động chính trị để dựng lên các lực lượng chính trị mới đại diện cho quyền lợi của các thế lực từ bên ngoài đất nước.

Cuối tháng 2 vừa rồi, khi thị trường chứng khoán Việt Nam đang lên giá phi mã tại những phiên giao dịch sau Tết Nguyên đán và các nhà đầu tư nước ngoài bán ra rất mạnh thì có tin sẽ có những biện pháp hạn chế thị trường và kiểm soát dòng vốn. Sự thật là chỉ mới có sự thảo luận giữa ngân hàng Nhà nước và bộ Tài chính về tình trạng quá nóng của thị trường chứng khoán, thế nhưng báo chí ngoài nước dẫn lời các ngân hàng, các tổ chức tài chính lớn của nước ngoài hoạt động tại Việt Nam khẳng định rằng sắp có những biện pháp như vậy và cảnh báo về những hiệu ứng xấu có thể. Trong vòng 3 ngày sau đó lần lượt phó thủ tướng thường trực rồi đến thủ tướng chính phủ phải xuất hiên trên đài truyền hình VTV để khẳng định rằng sẽ không có biện pháp nào can thiệp để làm giảm sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với chứng khoán Việt Nam.

Trong tình hình như vậy, các chuyên gia và tổ chức có trách nhiệm trong và ngoài nước lên tiếng cảnh báo về những nguy cơ rủi ro quá lớn của bong bóng chứng khoán Việt Nam, người chơi chứng khoán trong nước có phần chựng lại quan sát nên giảm mua vào làm giá chứng khoán sụt giảm nhẹ. Các quan chức của ủy ban Chứng khoán lại lên tiếng khẳng định các cảnh báo này là không chính xác, cùng lúc đó một đại diện của một tập đoàn tài chính khổng lồ tung tin rằng có 1 tỷ đô-la Mỹ đã được huy động từ ngoài nước chuẩn bị đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Giá chứng khoán lại lên chóng mặt, các nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán. Rồi gần đây điểm VN-Index sụt giảm xuống dưới 1000 điểm, sẽ không ngạc nhiên nếu biết rằng một lượng rất lớn cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa sẽ được tung lên thị trường trong thời gian ngắn sắp tới. Tất cả đều được giải thích rằng đó là những sự điều chỉnh tự nhiên theo qui luật của thị trường.

Những lỗ hổng kinh tế

Hiện trạng nền kinh tế Việt Nam có quá nhiều những lỗ hổng dễ dàng bùng phát thành các ngòi nổ được kích hoạt đồng loạt một khi quả bong bóng chứng khoán nổ tung châm ngòi. Tham nhũng làm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư quá thấp nhưng tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng tăng đầu tư làm tham nhũng càng thêm trầm trọng; bất động sản đóng băng làm chôn một lượng vốn rất lớn của các ngân hàng nên buộc phải gia tăng lãi suất huy động để giữ chân người gửi tiết kiệm làm lạm phát ngày càng cao; giá trị gia tăng hàng xuất khẩu quá thấp nên càng tăng xuất khẩu càng đẩy áp lực lên nguy cơ nhập siêu; nhập siêu càng lớn thì khả năng dự trữ ngoại tệ càng giảm trong khi xuất khẩu vẫn phải tăng tạo nguy cơ lệch cán cân thanh toán nghiêm trọng.

Đó chỉ là những lỗ hổng nhìn thấy được từ những con số thống kê do nhà nước công bố chính thức. Trên thực tế đang tồn tại nhiều nguy cơ hơn như thế, cả về số lượng lẫn mức độ trầm trọng. Hiện trạng này làm cho việc đảm bảo an ninh tài chính của Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào dòng ngoại hối và đầu tư nước ngoài, điều này lại càng làm tăng khả năng mặc cả và ra điều kiện của các thế lực nước ngoài.

Các nguy cơ và lỗ hổng này không phải mới xuất hiện, chúng đã có quá trình hình thành từ nhiều năm nay do chính sách tập trung tăng trưởng kinh tế theo thành tích mà thiếu các hoạch định mục tiêu theo chiều sâu, những kiến tạo chiến lược dài hạn và sự quan tâm cần thiết đến các tác động xã hội một cách toàn diện. Thực ra chính quyền cũng đã nhận ra và ngay từ đầu năm 2006 đã cố gắng đưa ra một số biện pháp để tháo ngòi nổ. Thúc đẩy thị trường chứng khoán để tạo ra một kênh huy động vốn hiệu quả nhằm giảm rủi ro huy động vốn của các ngân hàng và áp lực tăng lãi suất huy động để giảm lạm phát; thúc đẩy thật mạnh việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước để gia tăng năng lực cạnh tranh và tăng nguồn vốn ngân sách để có thêm dự trữ quốc gia là những chính sách vĩ mô đúng đắn được đưa ra.

Và những kẻ cơ hội

Nhưng thật trớ trêu, thị trường chứng khoán bị biến thành nơi rửa tiền, để đầu cơ trục lợi ngắn hạn, vốn thực sự được huy động để đưa vào nền kinh tế chẳng bao nhiêu, nguy cơ rủi ro cho các ngân hàng không hề giảm đi mà còn trầm trọng hơn vì người ta vay vốn ngân hàng đổ vào chứng khoán; cổ phần hóa bị biến thành cơ hội rất tốt để bán rẻ tài sản toàn dân cho nước ngoài để các quan chức tham nhũng trục lợi. Năng lực thực thi các chính sách vĩ mô của chính quyền các cấp, từ trung ương đến địa phương đang thực sự bị thách thức bởi những kẻ cơ hội. Lực lượng này phát triển kinh khủng kể từ sau đại hội X nhưng lại không dễ bị nhận dạng vì bọn họ không hình thành nên những phe nhóm riêng rẽ cụ thể nào cả, mà len lỏi có mặt ở tất cả mọi nơi từ cơ quan đảng đến nhà nước, chính phủ đến quốc hội, trung ương đến địa phương, cơ quan hành chính đến các doanh nghiệp.

Cũng không có một thỏa thuận liên minh nào được cam kết nhưng bọn họ phối hợp hành động rất ăn ý và đồng bộ nhờ có một mục tiêu chung là trục lợi. Có lẽ chỉ có một đặc tính nhận dạng những kẻ cơ hội là bọn họ không thể hiện chính kiến riêng và luôn hoan nghênh tất cả các nghị quyết của đảng, chỉ thị của chính phủ, dự luật của quốc hội và các quyết định của chính quyền địa phương cho dù là chúng mang tính bảo thủ hay cấp tiến. Sau đó những kẻ cơ hội sẽ âm thầm, khéo léo và thừa năng lực để biến chúng thành những đảm bảo pháp lý an toàn cho bọn họ trục lợi. Nhưng điều tồi tệ và nguy hại nhất ở đây chính là những kẻ cơ hội này đang được các thế lực nước ngoài hỗ trợ và nuôi dưỡng vì quan hệ cộng sinh và vì những kế hoạch dài hơn.

Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh trong thời gian qua – ai cũng nhìn thấy. Nền kinh tế Việt Nam có rất nhiều những lỗ hổng tạo nguy cơ khủng hoảng nặng – không quá khó để nhìn thấy. Nhưng các tổ chức nước ngoài hầu như chỉ khen tặng và đưa ra những dự báo cổ vũ khích lệ cho Việt Nam tiếp tục theo đuổi những thành tích tăng trưởng bằng con số cao hơn. Muốn đạt được thành tích đó thì phải đầu tư nhà nước mạnh hơn nữa, nếu thiếu vốn thì nước ngoài sẵn sàng cho vay với điều kiện rất ưu đãi. Tai hại hơn nữa là gần đây nhà nước đứng ra phát hành trái phiếu quốc tế để vay nợ lấy tiền đổ vào các doanh nghiệp quốc doanh, các chủ nợ nước ngoài vẫn mua ào ạt các trái phiếu này dù thừa biết rằng các doanh nghiệp đó làm ăn rất kém hiệu quả. Bộ tài chính vừa trình cho thủ tướng chính phủ đề án phát hành tiếp 1 tỷ đô la Mỹ trái phiếu quốc tế để tiếp tục vay nợ cho các doanh nghiệp nhà nước, nghe đâu thủ tướng cũng sắp phê duyệt. Và còn nhiều đề án tương tự sắp được trình duyệt. Sự vỡ nợ là không thể tránh khỏi.

Cứ cho là nhà nước xác định các chương trình đầu tư đó là chiến lược để thực thi kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu vậy sao không bán ra các cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hoá mà tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đang sở hữu? Chỉ tính riêng các doanh nghiệp đang niêm yết trên thị trường chứng khoán thì SCIC đã kiểm soát khoảng 3 tỷ đô la Mỹ giá trị vốn hóa vào thời điểm thị trường lên cơn sốt, vậy mà họ đã án binh bất động để cho các nhà buôn chứng khoán nước ngoài với vài ba tỷ đô la đã có thể làm mưa làm gió trên thị trường. Giá trị cổ phần của các doanh nghiệp chưa niêm yết hoặc chưa cổ phần hóa còn lớn hơn hàng chục lần nhưng vẫn phải nằm chờ các nhà tư vấn danh giá nước ngoài lựa chọn “các cổ đông chiến lược”. Các mục tiêu cổ phần hóa đúng đắn ban đầu đã bị bóp méo, thay vì gia tăng dự trữ thì lại tăng thêm gánh nặng quốc gia. Giờ đây nó đã bị những kẻ cơ hội biến thành cơ hội để không những trục lợi mà còn giúp cho các thế lực nước ngoài cầm chắc thêm phần cán.

Sự khủng hoảng kinh tế

Một cuộc khủng hoảng kinh tế là điều không thể tránh khỏi. Vấn đề là lúc nào? Cuối năm 2008. Những cam kết của Việt Nam gia nhập WTO và hiệp định thương mại song phương Việt Mỹ sẽ cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được phép sở hữu đa số chi phối các doanh nghiệp trong nước ở hầu hết các lĩnh vực vào thời điểm đó. Kế hoạch đã được định đoạt. Trước đó vài tháng quả bóng chứng khoán sẽ cho nổ tung, người dân tháo chạy khỏi thị trường sẽ tạo hiệu ứng đô mi nô lên các ngân hàng – dân chúng ùn ụt rút tiền ra, xã hội sẽ rối loạn, dân nghèo sẽ bị bần cùng. Đầu năm 2009 hệ thống tài chính có thể sụp đổ bất kỳ lúc nào nên đòi hỏi sự cứu trợ khẩn cấp. Những điều kiện kinh tế và chính trị ép buộc sẽ được đưa ra và dễ dàng đạt được thỏa thuận. Các khoản vay bằng trái phiếu sẽ được chuyển thành cổ phần cho các trái chủ mà không cần chờ hết thời hạn ban đầu 10 – 20 năm, không cần đến điều khoản chuyển đổi từ đầu. Tài sản quốc gia bị thâu tóm với giá rẻ mạt.

Các tập đoàn kinh tế nhà nước sẽ có những ông chủ mới, những kẻ cơ hội sẽ ra mặt làm chủ (đảng viên đã được phép làm kinh tế) cùng với những “cổ đông chiến lược nước ngoài”. Đồng vốn nước ngoài sẽ tiếp tục đổ vào để phát triển các doanh nghiệp này nên tạo thêm công ăn việc làm, tầng lớp lao động nghèo đang túng quẫn sẽ mang ơn những ông chủ mới. Một lượng vốn nữa sẽ lại được mồi vào chứng khoán để kích giá cổ phần của chính các doanh nghiệp này làm thị trường chứng khoán hồi phục, tầng lớp trung lưu sẽ vui vẻ và thán phục các nhà doanh nghiệp tài ba. Đó là thời điểm cuối năm 2010. Tiềm lực kinh tế đã nắm, lòng dân đã được thu phục, còn lúc nào tốt hơn lúc này để dựng lên một lực lượng chính trị đại diện cho mình. Còn ai xứng đáng, phù hợp và trung thành hơn những kẻ cơ hội để đại diện cho thế lực thôn tính. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa 12 sẽ bị rút xuống 4 năm để đồng bộ với nhiệm kỳ của Trung ương đảng và bộ Chính trị, do vậy nửa đầu năm 2011 sẽ diễn ra 2 sự kiện quan trọng: đại hội XI của đảng Cộng sản Việt Nam và bầu Quốc hội Việt Nam khóa 13. Còn ai sáng giá hơn những kẻ cơ hội để kiểm soát chính trường.

Khủng hoảng không thể không xảy ra. Nếu lực lượng cấp tiến của đảng Cộng sản giành được nhiều vị trí quan trọng trong chính phủ sau bầu cử Quốc hội khóa 12, sau đó đề ra thực hiện các biện pháp chống khủng hoảng thì thế lực thôn tính sẽ cho khủng khoảng xảy ra sớm hơn, trước khi các biện pháp này có thể phát huy tác dụng. Thời gian khủng khoảng sẽ dài hơn, công sức để xử lý nó sẽ lớn hơn, chi phí sẽ tốn kém hơn nhưng vẫn đáng để làm so với mục tiêu mà họ đạt được. Nguyên nhân và các tác nhân gây khủng hoảng sẽ được qui trách nhiệm cho lực lượng cấp tiến để triệt hạ uy tín của họ, làm nền cho những kẻ cơ hội tỏa sáng.

Tác động đến chính trị

Nhưng đó vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất. Nếu thế lực thôn tính xét thấy khả năng áp đặt và ra điều kiện của họ tăng mạnh và hoàn toàn có thể kiểm soát được thì thời điểm châm ngòi nổ khủng hoảng sẽ được dời qua năm 2009 để chi phí và công sức bỏ ra sẽ ít hơn. Và thời gian cũng ngắn hơn để các lực lượng cấp tiến mang tính dân tộc không đủ sức hình hành và liên kết lại để gây khó khăn cho các đại diện cơ hội trong đợt bầu cử. Lúc ấy, cái vỏ bọc cộng sản và chủ nghĩa xã hội cũng sẽ không còn cần thiết nữa vì chẳng còn uy tín gì, sẽ bị thay bằng một vỏ bọc khác.

Đó là những biến động đã được phán xét. Cách duy nhất giúp đất nước thoát khỏi sự thôn tính là dân chủ, thực sự dân chủ để tập hợp sức mạnh toàn dân tộc chiến thắng thế lực thôn tính. Nhưng người dân bây giờ không được thông báo và chia sẻ về những nguy cơ đối với vận mệnh dân tộc, người ta thậm chí còn ngại khi nói đến vì cho rằng đó là những điều cấm kỵ làm ảnh hưởng đến uy tín của chính quyền. Ngày xưa nhà Trần đã đưa Đại Việt không phải trở thành một nước nô lệ vì không những đã thông báo cho toàn dân biết nguy cơ xâm lược từ nhiều năm trước, mà còn tổ chức một hội nghị Diên Hồng để hỏi ý kiến các bô lão – những đại diện của dân đánh hay hòa.

Những viên đạn ma túy

Cũng có một số đại biểu quốc hội có trách nhiệm và chuyên gia tâm huyết đã lên tiếng cảnh báo những nguy cơ này trên diễn đàn quốc hội và rải rác trên một vài tờ báo, nhưng tất cả đều bị lọt thỏm và che lấp bởi cả rừng lời lẽ ca ngợi, tâng bốc. Hễ có những nhận xét đánh giá tốt đẹp của nước ngoài là đồng loạt báo, truyền hình, phát thanh trên cả nước đưa tin, dẫn lời kèm những bình luận tán dương thêm vào. Nhiều người cho rằng có một sự chỉ đạo xuyên suốt từ trên xuống cho những chiến dịch tuyên truyền như vậy, nếu như thế vẫn còn may. Chẳng cần chỉ đạo, những kẻ cơ hội biết cách thỏa mãn các lãnh đạo chính quyền bằng những sản phẩm báo chí như vậy. Những sản phẩm văn hóa đó còn thâm độc hơn cả ma túy được dùng trong các cuộc xâm lăng thuộc địa trước đây. Nó dùng làm thuốc an thần để lãnh đạo quên đi những “cảnh báo bi quan”, nó ru ngủ dân chúng, đánh lừa chính quyền vào mê hồn trận tiếp tay cho thế lực thôn tính. Thật ứng với một đoạn sấm Trạng Trình:

"Cơ trời xem đã mê đồ

Đã đô lại muốn mở đô cho người"

Suy giảm sức đề kháng

“Tai họa sẽ đến nếu bạn để cho cuộc sống cộng đồng và tập thể bị chi phối bởi các thế lực nằm bên ngoài nền chính trị của đất nước bạn” (Chiếc Lexus và cây ô liu – trang 319). Chỉ một thiểu số ở nước ta được hưởng lợi ích từ sự tăng trưởng kinh tế trong khi đa số dân chúng phải gánh chịu hậu quả nặng nề của lạm phát. Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng tỷ lệ thuận với bất công xã hội. Chỉ cần tạo điều kiện công bằng cho người dân tiếp cận với các cơ hội và nguồn lực quốc gia để phát triển thì không cần phải vất vả lo phân phát đặc quyền và xóa đói giảm nghèo. Niềm tin của dân chúng bây giờ là: muốn vươn lên thì phải kiếm nhiều tiền, muốn nhiều tiền thì phải tranh thủ được sự ủng hộ của quan chức. Đáng lẽ chính quyền phải tạo ra động lực cho dân chúng thì lại hướng động lực của dân chúng vào chính quyền. Tham nhũng sẽ không thể bị đẩy lùi đến khi nào mà những niềm tin và động lực kiểu ấy chưa được thay đổi tích cực, khi đó động cơ vì tiền bạc và quyền lợi sẽ chi phối xã hội – nhiều người kiếm tiền bất chấp những hệ quả tai hại tạo ra cho người khác. Những điều này chính là sự suy giảm hệ miễn nhiễm quốc gia mà thế lực thôn tính rất mong muốn. Tai họa sẽ ập đến là đương nhiên .

Các biện pháp xây dựng sức đề kháng cho xã hội bị tham nhũng biến thành những khẩu hiệu suông. Người ta hô hào xây dựng một chính quyền gần dân, nhưng với phần đông dân chúng cái gần gũi nhất với họ là tiêu cực và tệ nạn xã hội và phải chung sống với nó mà chẳng còn cách nào khác. Nhưng bằng một ít lợi lộc người ta đã làm cho một số lượng không nhỏ thuộc tầng lớp trung lưu tin rằng cứ tập trung phát triển kinh tế thì các vấn đề xã hội tự nhiên sẽ được giải quyết và sau đó sẽ dẫn đến một nền chính trị tốt đẹp. Cách này đã tỏ ra hiệu quả trong việc ngăn cản đáng kể sự đòi hỏi chính đáng của dân chúng thông qua tầng lớp xã hội quan trọng này. Người nghèo phải hèn đã đành, kẻ giàu giờ đây cũng hèn không kém.

Cũng có những người dám lên tiếng với tinh thần trách nhiệm vì cộng đồng nhưng họ đã bị trấn áp vì bị cho là những nhân tố làm bất ổn xã hội và vi phạm pháp luật. Cần tỉnh táo nhìn nhận rằng các nguy cơ của quốc gia và của cả đảng cầm quyền hiện nay không đến từ lực lượng này mà nó đến từ bên ngoài và được trải thảm đỏ, nguy kịch hơn nữa là nó đến từ chính những kẻ cơ hội – một lực lượng nằm trong lòng của đảng Cộng sản nhưng lại không dễ nhận ra. Những ý kiến trái chiều, chính kiến bất đồng là sự phản biện cần thiết cho xã hội và cho đảng cầm quyền nếu nó có được một không gian hoạt động hợp pháp. Nó giúp phát hiện những lỗ hổng về mặt xã hội và chính trị vốn còn nguy hại hơn nhiều lần các lỗ hổng kinh tế, đóng góp tốt cho sự phát triển, và góp phần ngăn chặn bớt những tệ nạn xã hội – cái mà đảng cầm quyền nào cũng cần để nâng cao uy tín.

Một xã hội chỉ phát triển mạnh khi nào ý chí của số đông đươc thực thi thông qua quyền lực của nhà nước nhưng xã hội đó chỉ có thể thực sự ổn định lâu dài khi nào các ý kiến của một thiểu số dù rất nhỏ vẫn phải được lắng nghe. Những nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam hiện nay không có mục tiêu lật đổ chính quyền tuy vẫn có những ý kiến cực đoan, có muốn thì cũng chẳng đủ sức để làm. Việc bắt bớ họ chỉ tạo cho các thế lực thôn tính những cái cớ và điều kiện tốt để có thể mặc cả nhiều quyền lợi hơn trên đất nước Việt Nam và ghi điểm với dân chúng mà thôi.

Sự lệ thuộc vật chất

Đáng lo là những kẻ dấu mặt hoặc ngụy trang bằng những vỏ bọc danh giá. Những thế lực thù địch ra mặt, những kế hoạch diễn biến hòa bình đều có những tổ chức công khai hoặc dễ phát bị hiện chẳng ăn thua gì trước sức mạnh của ngành an ninh Việt Nam. Phương thức thôn tính mới này không có tổ chức rõ ràng để mà phát hiện, nó đến từ mọi ngóc ngách, tấn công vào mọi tầng lớp bằng hai “cánh quân”: kinh tế - văn hóa và chính trị - xã hội. Một khi phát hiện một nước nào đó có dấu hiệu của sự suy giảm hệ miễn nhiễm quốc gia thì các doanh nghiệp của nó sẽ dùng các sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng văn hóa để kiếm lời nhanh và tạo ra các lỗ hổng kinh tế, xã hội ở đó. Tiếp theo là chính quyền của nó sẽ khai thác các lỗ hổng này để ra các điều kiện áp đặt tạo thêm quyền lợi cho các doanh nghiệp của nó, khoét sâu thêm các vấn đề xã hội và tăng thêm gánh nặng nợ nần của nước đó. Đến thời điểm chín mùi nó sẽ cho vỡ nợ và hoàn tất quá trình thôn tính. Hãy nghe lời thú nhận của một người trong cuộc:

“Một số người đổ lỗi cho việc chúng tôi mắc phải những vấn đề như hiện này là do một âm mưu có tổ chức. Tôi ước gì nó chỉ đơn giản như vậy. Các thành viên của một âm mưu có thể bị phanh phui và đưa ra xét xử. Song, những gì thực sự đang nuôi dưỡng hệ thống này còn nguy hiểm hơn cả âm mưu. Nó không chỉ do một nhóm người nhỏ lẻ nào điều khiển mà nó chịu sự chi phối của một khái niệm đã được coi là chân lý: đó là ý tưởng cho rằng mọi sự tăng trưởng kinh tế đều có lợi cho loài người và rằng càng tăng trưởng thì lợi ích càng lớn… Tất nhiên các khái niệm này hoàn toàn sai lầm. Chúng ta biết rằng ở rất nhiều nước, tăng trưởng kinh tế chỉ đem lại lợi ích cho một bộ phận nhỏ người dân và thực ra là đẩy đa số những người còn lại đến bờ tuyệt vọng… Khi con người được thưởng vì lòng tham thì sự tham lam sẽ trở thành một động lực tồi tệ” (Lời thú tội của một sát thủ kinh tế - trang xiv)

Dù quá trình thôn tính chưa hoàn tất nhưng xã hội ta đã là một xã hội lệ thuộc. Người nghèo lệ thuộc người giàu, người giàu lệ thuộc quan chức, quan chức thì bị chi phối bởi những kẻ cơ hội. Người ta bị điều khiển bởi đồng tiền và những động lực vật chất, thật đúng như Rousseau nói trong Khế ước Xã hội: “làm theo kích thích của dục vọng là nô lệ”. Sự lệ thuộc vật chất dẫn đến ý thức lệ thuộc và ích kỷ. “Thôi, lo làm mà kiếm tiền, để ý chi đến những việc đó, gặp phiền phức bây giờ” là câu nói mà nhiều người bật ra khi nghe ai đó bức xúc về những vấn đề của xã hội và chính quyền. Những ý thức và suy nghĩ độc lập ngày càng hiếm hoi làm sức đề kháng của xã hội ngày càng xuống thấp. Khi mà thế lực thôn tính nhận thấy rằng nó có thể dẫn dắt các hành động của số đông bằng những tin đồn liên quan đến quyền lợi của họ, đó là lúc mà nó ra sẽ đòn quyết định. Một vài phép thử đã được thực hiện như cơn sốt vàng năm trước và gần đây là chứng khoán.

Đáng lo hơn nữa là sự lệ thuộc suy nghĩ như vậy làm rất nhiều người, từ dân nghèo đến cả tầng lớp trung lưu hy vọng thụ động vào một sự thay đổi từ bên ngoài sẽ mang đến cho họ cuộc sống tốt đẹp hơn cả về vật chất lẫn tinh thần và quyền lợi chính trị, mà không ý thức rằng chính mình mới là nhân tố quyết định những kết quả đó. Tác động từ bên ngoài là khách quan, dù muốn hay không muốn nó vẫn tồn tại, nhưng chính sức mạnh của nội lực mới quyết định kết quả của sự tác động đó là tốt hay xấu. Với sức đề kháng của xã hội như Việt Nam hiện nay, kết quả đó sẽ là một thảm họa. Chỉ cần nhìn vào thị trường thuốc chữa bệnh thì sẽ thấy quyền lợi và tính mạng của đại đa số dân ta đang bị hy sinh để phục vụ cho một nhóm lợi ích tư rất nhỏ trầm trọng đến mức nào. Các tập đoàn dược phẩm thao túng hoàn toàn thị trường nhờ sự tiếp tay của những kẻ cơ hội, đẩy giá thuốc lên khủng khiếp và liên tục nhiều năm qua bất chấp những nỗ lực của báo chí và những cố gắng của một số quan chức có trách nhiệm. Không cẩn thận thì thị trường xăng dầu sắp tới cũng sẽ bị lũng đoạn.

Vấn nạn và tâm linh

Các vấn nạn xã hội chưa bao giờ được nhìn nhận và phân tích khách quan theo qui luật nhân quả để tìm ra bản chất của nó mà chữa trị hiệu quả. Giai đoạn đầu sau khi mở cửa người ta đổ lỗi cho chúng là do kinh tế thị trường, còn bây giờ phát triển kinh tế thuần túy được xem là cứu cánh để giải quyết chúng. Nhũng nhiễu cửa quyền, tham nhũng, thiếu dân chủ và minh bạch, tai nạn giao thông nghiêm trọng, môi trường bị hủy hoại trầm trọng, v.v… được cho là do dân trí còn thấp, trình độ phát triển kinh tế chưa cao, chúng sẽ tự cải thiện khi mà kinh tế phát triển hơn nữa. Nền kinh tế Việt Nam sau khi Pháp thuộc phát triển hơn nhiều thời tự chủ phong kiến trước đó, nhưng dân ta đã được hưởng những gì? Ai cũng thấy rằng nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang phát triển nhanh liên tục thời gian qua, nhưng nhanh bao nhiêu thì các vấn nạn xã hội lại phát triển mạnh hơn bấy nhiêu lần.

Sao không chịu nhìn nhận rằng chúng là sản phẩm của sự mất cân đối giữa các chính sách kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội; chúng chẳng do kinh tế thị trường mà do chính cái cơ chế tạo động lực cho xã hội đã bị vật chất hóa. Khi nào vật chất còn quyết định ý thức thì khi đó sự suy thoái xã hội là không thể tránh khỏi.

Tấm gương làm giàu của những kẻ cơ hội đã tạo ra một tâm lý lao vào kiếm tiền một cách thiếu trách nhiệm. Bây giờ quá nhiều kẻ giàu nhờ thế lực, nhờ ăn may và liều lĩnh mà không nghĩ đến những tai họa mình tạo ra cho cộng động. Đầu cơ nhà đất để trục lợi mặc cho nhiều người chưa có nhà, nông dân bị mất đất mà chưa có việc làm mới; thầy thuốc tiếp tay đẩy giá thuốc mặc cho bệnh nhân của mình rơi vào cảnh khốn cùng; nạn mãi lộ và ăn tiền để cấp phép giao thông kém chất lượng mặc cho hàng chục nghìn người chết vì tai nạn; tạo sự khan hiếm giả nhằm kích giá chứng khoán lên rồi bán ra cổ phần riêng của mình để trục lợi thay vì phát hành thêm nhiều nữa để huy động vốn phát triển, đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông, v.v… chỉ là một vài trong hàng ngàn kiểu kiếm tiền bất chấp đạo đức. Những người làm giàu bằng trí tuệ nhờ mục tiêu tạo ra lợi ích cho cộng đồng thật đáng trân trọng nhưng còn quá hiếm hoi.

Thay vào đó, những kẻ giàu thể hiện tấm lòng với cộng đồng bằng cách bỏ ra ít tiền để làm từ thiện, rồi dùng từ thiện để quảng bá hình ảnh của mình bằng những chiến dịch rầm rộ kêu gọi chung tay góp sức vì người nghèo. Để tự trấn an mình thì họ ra sức cúng bái, lễ chùa và thuê thầy thực hành các nghi lễ tâm linh; rồi thông qua lễ để cầu xin quan lộc. Họ hứa với thánh thần rằng nếu được thì họ sẽ cúng lễ nhiều hơn. Nhưng trớ trêu là rất nhiều người trong họ cho rằng làm thế là mình sống có tâm đạo. Chính quyền thì cho rằng đó đã là sự tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Những giá trị thuần khiết như tâm linh giờ đây cũng bị biến thành công cụ để kinh doanh kiếm tiền.

“Dân sính lễ là điềm suy xã tắc, dân ngộ đạo là điềm thịnh quốc gia”. Xã hội giờ đây đã thực sự suy thoái trầm trọng.

Chấn đạo thì quốc hưng

Chính quyền bất lực với vấn nạn này vì các giải pháp và mệnh lệnh hành chính đều bị vô hiệu, bóp méo và lợi dụng. Giờ đây người ta nghĩ đến các cuộc vận động kêu gọi đạo đức, nhưng sự thất bại là có thể đoán trước. Những kẻ cơ hội sẽ tán dương và rồi sẽ lợi dụng và bóp méo nó để trục lợi, thậm chí là dùng nó để loại trừ đối thủ. Xã hội bây giờ không có những động lực tinh thần để hưởng ứng những cuộc vận động như vậy. Hãy chờ xem những hậu quả tạo ra từ cuộc vận động chống tiêu cực trong ngành giáo dục sẽ nặng nề đến thế nào.

Nhà nước cần tập trung chấn đạo cho quốc gia. Đạo không phải là tôn giáo, các tôn giáo là những phương pháp hiệu quả để tải đạo. Đạo là những qui luật vận động thiên nhiên khách quan của trời đất mà khi ngộ đạo con người sẽ hiểu rằng trên có trời, dưới có đất và ở giữa cái không gian ấy con người cần sống với nhau bằng lòng nhân nghĩa. Chỉ khi đó cuộc sống của người dân mới có được sự cân bằng giữa đời sống vật chất, đời sống tinh thần và đời sống tâm linh mà không bị rơi vào các thái cực của đam mê vật chất, độc đoán hoặc lệ thuộc tư tưởng và mê cung tôn giáo. Sự cân bằng như vậy sẽ làm cho xã hội thăng hoa. Khi đó sức miễn nhiễm và đề kháng của xã hội sẽ rất cao nhờ ý thức độc lập tự chủ và tương trợ cộng đồng của mỗi công dân.

Đó là điều kiện cần thiết để xây dựng một quốc gia độc lập và cường thịnh. Đó cũng là lúc mà các doanh nghiệp trong nước có đủ sức mạnh để cùng với nhà nước điều tiết các hoạt động kinh tế hướng đến lợi ích của người dân, cùng làm dân giàu nước mạnh.

Cả nước hãy góp phần đừng để tham nhũng trở thành quốc đạo.

Ngõ thoát hẹp duy nhất

Trong tình trạng nguy cấp hiện nay, vẫn còn một ngõ hẹp duy nhất để thoát khỏi sự thôn tính. Dùng khủng hoảng để chống khủng hoảng; dùng biến để hóa biến; dùng kẻ cơ hội để chống tham nhũng; dùng tham nhũng để chống thôn tính. Muốn làm được như vậy phải có hiền tài, nếu không làm cho Quốc hội thực sự trở thành một nơi tập hợp các hiền tài để thúc đẩy ý chí dân tộc, phát triển trí tuệ của toàn dân thì cho dù chính quyền theo thể chế chính trị nào đi nữa thì đất nước đó cũng sẽ bị thôn tính. Càng không thể đóng cửa lại mà bảo vệ chủ quyền như nhà Nguyễn đã từng làm rồi chuốc lấy thất bại. Bài học cùng thời của nước Nhật vẫn còn nguyên giá trị để mở cửa thành công.

Những vấn đề biên giới lãnh hải vẫn luôn nóng. Không phải mà ngẫu nhiên Trung Quốc vừa lên tiếng về Trường Sa trong lúc Chủ tịch Quốc hội nước ta đang viếng thăm họ. Họ biết rằng đang có một sự sắp xếp khó khăn trong nước để chọn người làm Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư – mô hình mà họ khuyến nghị. Và xin đừng bao giờ quên là những kẻ cơ hội luôn chực chờ ra đòn vào lúc quyết định. Những vấn đề gây tranh cãi về hiệp định biên giới Việt Trung 1999 vẫn còn đó.

Và trên hết, việc hòa hợp dân tộc cần được chú trọng hơn bao giờ hết để tập hợp sức mạnh quốc gia thì mới có thể hy vọng vào một ngày cường thịnh không xa của Việt Nam. 32 năm đã trôi qua, thiết nghĩ ngày 30 tháng 4 cần được đổi thành ngày hòa hợp dân tộc thì sẽ chứa đựng bao nhiêu ý nghĩa và sức mạnh. 32 năm qua diện mạo của đất nước đã thay đổi tốt hơn rất nhiều, đó là những bề nổi dễ nhìn thấy. Nhưng cũng 32 năm rồi mà chỉ có nửa triệu người Việt Nam đã được đi máy bay, chắc phải đến 70 triệu người chỉ được cảm nhận và thụ hưởng sự thay đổi của đất nước qua những hình ảnh và lời nói. Đó là những con số rất cần được nhìn vào chiều sâu nếu muốn Việt Nam thực sự cường thịnh.

Trần Đông Chấn

Thursday, March 13, 2008

HẠNH PHÚC

Rồi một ngày vui, một ngày buồn, một khoảng khắc về lòng trung thành với tổ quốc. Những dằn vặt về một Việt Nam nhược tiểu. Nhưng rồi một hôm người bạn chuyển cho bài thơ vê Hạnh Phúc của thi sỹ Hương Giang - Ngậm ngùi đọc thấy thương trong từng con chữ. Hay quá những câu: "Đất nước mẹ lớn lên tai họa trăm điều - Nhưng vẫn đẹp quá. Đẹp một màu Việt Nam !

Hương Giang.

Điều đầu tiên mẹ vẫn khát khao nói về hạnh phúc

Như đóa hoa mong manh giữa gió rét lạnh lùng

Biết bao lần cô đơn trên cánh đồng trống

Mẹ thấy quanh đời còn lại những hoang liêu

Đất nước mẹ lớn lên tai họa trăm điều

Vẫn nghe thương từng ngọn rau tấc đất

Có những cái mất đi đớn đau, ray rứt

Có nỗi hạnh phúc lạ lùng những lúc được bên nhau

Bầu trời của con không có bóng hỏa châu

Không có những đêm mẹ kéo lê xuống hầm trú ẩn

Không có nỗi chia lìa hãi hùng lởn vởn

Trong cuộc sống mỗi ngày, trong giấc ngủ, những đêm sâu

- Đừng để những vặt vãnh cuộc đời cũng làm mất được nhau

Biết bao lần mẹ muốn nói về những thương đau

Của những người hôm qua bị dập vùi, bôi xoá

Của bác N, của chú T, của ông X ...

Chúng ta đã bị đánh ngã hôm qua không thương tiếc

Đang đứng trên đồi

Còn đứng giữa phố

Chúng ta thét!

Chúng ta gào!

Giữa những ngày trời lộng gió

Chúng ta sống cùng đồng bào phút đó

- Con có hiểu tại vì sao gắn bó !?

Cuộc sống của mẹ luôn đầy ắp những ước mơ

Ước mơ hiền lành như khoai như lúa

Dẫu năm tháng đổi dời, lòng người cách trở

Dẫu mộng úa tàn, dẫu tình yêu dang dở

Mẹ có bao giờ để lòng mình héo khô

Và hôm nay mẹ lại làm thơ

Kể cho con nghe những lạ lùng gắn bó...

Quanh nhà mình có những ngọn đồi cháy đỏ

Mẹ hàng ngày vẫn đi qua đó

Vẫn thật bất ngờ khi cỏ mướt màu xanh

Trời ở đây mây vẫn trắng, nắng vẫn hanh

Nhưng khi tiếng mưa gõ đều ngoài khung cửa

Tiếng giàn bông giấy đầu hè lại rạt rào nức nở

Tiếng con sông ngày xưa bên bồi bên lở

Làm sống dậy giữa lòng mẹ nỗi đau dịu dàng

cùng nỗi nhớ

những ngày xưa ...

Những ngày xưa quê hương mù khói lửa

Theo ngoại chạy giặc hoài xuôi ngược ngược xuôi

Thấy mình như con sông nắng chiều nhuộm đỏ

Nước cứ chảy xuôi hoài ai biết sẽ về đâu

Tự cuộc sống đã không cho mình những bền vững dài lâu

Nên mẹ luôn chọn những gì bền chặt nhất

- Là mẹ có con

- Là vợ có chồng

- Là tất cả chúng ta có cội nguồn tổ quốc

Là chọn có nhau dù gian nan hay hạnh phúc

Con sẽ phải đối mặt với muôn nghìn bất trắc

Những khổ lụy cuộc đời dằng dặc như nắng mưa

Con hãy chọn cho mình những gì bền chặt nhất

Những gì không một ai có thể tước đoạt mất

Dẫu cuộc sống có thăng trầm năm tháng đổi thay

Chúng ta vẫn luôn có một bầu trời thật nhiều mây

Và ngọn đồi sau nhà không còn quanh năm cỏ cháy

Trái hạnh phúc khi dễ dàng hái lấy

Con sẽ không hái cho riêng con mà cho cả cuộc đời

***

HỊCH TƯỚNG SỸ !

Tháng 12 năm Giáp Thân 1284, hiệu Thiệu Bảo năm thứ 6, đời Trần Nhân-Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp.
Vua Nhân-Tông thấy thế giặc mạnh, cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng "Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân ?"
Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn-Miếu Xã-Tắc thì sao ? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng !!" Vua nghe thế yên lòng.
Hưng Đạo Vương trở về Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân Nam, và thảo bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Trung văn: 諭諸裨將檄文, thường gọi là Hịch tướng sĩ) để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách Binh thư yếu lược, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2.

HỊCH TƯỚNG SỸ

Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc.

Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có ? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được ?

Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào ? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu ! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào ? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt !

Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.

Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?


Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm.

Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm.

Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai.

Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào ! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận.

Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng ?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc "đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ" làm nguy; nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không ?

Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

Vì sao vậy ? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa ?

Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta !

Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn

KỶ NIỆM 1 NĂM NGÀY BỊ ĐỚP

Lâu quá rồi không vào blog được vì bị firewall, hôm nay vô tình lại vào được
Lâu rồi không viết trực tuyến. Thế là cũng đã hơn 1 năm mình về và bị đớp.
Nhiều thứ đã đi vào kỷ niệm. Có nhiều điều đã quên đi nhưng còn nhiều điều đáng nhớ.
Bác Nguyên khuyên: Phải có một cái gì đó cho - Ba Tháng mười ngày.
Ngắn ngủi quá.
Và thời gian cũng trôi nhanh quá.
Nhớ !
______________

Friday, December 21, 2007

TAM SA VÀ 8 CHỮ CHO VIỆT NAM

Sáng 9/12, Tôi cùng một số em sinh viên đi biểu tình phản đối Tam Sa. Chúng tôi đến sớm, đứng dưới chân cột cờ Hà Nội trên đường Điện Biên Phủ. Đi qua bảo tàng lịch sử quân đội, ngắm nhìn những khẩu thần công cũ, nghe tiếng vọng của Đất nước bị xâm lăng, sẻ chia nỗi lòng xót xa vì Trường Sa, Hoàng Sa bị Tàu hóa. Đã lâu rồi không hát quốc ca nhưng hôm đó tôi đã hát như chưa bao giờ say mê đến thế. Đứng trên lề đường Hoàng Diệu, tôi bắt nhịp hát Quốc Ca và Nối vòng tay lớn, thấy máu Lạc Hồng dâng trong huyết quản, nơi vẫn còn in dấu tay của công an bóp cổ xách đi hôm xử hai Luật sư đồng nghiệp 12 ngày trước đó. Ngay trong lúc cuồng nhiệt hô to phản đối Tam Sa, Tôi vẫn thấy thiếu một cái gì đó. Cứ cảm giác, giống như đất nước mình, không có nội lực và sắp sửa bị nhấc bổng mang đi.

Việt Nam cô đơn – phát triển chỉ là bề mặt

Trước mặt là Đại sứ quán Trung Quốc, Sau lưng là “Ông Lê Nin ở nước Nga” phanh com lê khoe hói. Chúng tôi, những con người Việt Nam bé nhỏ, đứng giữa họ. Quay lưng về phía Ông Lê Nin, đối mặt với Bá quyền phương Bắc. Hô to Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Khi những tay công an “Trung Quốc” thô bạo đẩy đi, một người bạn Mỹ gọi điện nói: “Quân ơi, How are you ? ”. Tôi vẫn hô “Việt Nam, Việt Nam” một cách nghẹn ngào.

Tôi biết rằng mình sẽ bị mang đi như người ta xách con gà con vịt. Ngay lúc đó tôi nghĩ đến sự độc tài cộng sản. Nhưng khi bình tĩnh lại, tôi biết rằng mình bị xách đi còn là vì Việt Nam là một nước nhỏ và nghèo. Chúng ta đều biết rằng việc thành lập huyện Tam Sa chỉ là sự tiếp theo của dã tâm bành trướng hàng ngàn năm nay. Hơn nữa, vì cuộc khủng hoảng năng lượng đang ngày càng trầm trọng ở Bắc Kinh. Lúc biết vươn bàn tay ra xa tận Châu lục đen để tìm kiếm dầu hỏa thì Trung Quốc chắc chắn cũng đặt ưu tiên lấn chiếm những vùng xung quanh đầy tiềm năng, đồng thời bảo vệ con đường biển huyết mạch cho các cảng biển vùng duyên hải phía Đông Nam. Trung Quốc đã gây ảnh hưởng ở Myanmar, Campuchia và đè đầu ta bằng cách liên tục tăng cường ảnh hưởng ở Biên giới và ở Lào, nay khi ta hơi cong mình, họ áp sát, xọc tiếp lưỡi giao kề cận ngang hông chúng ta bằng cách chiếm Hoàng Sa và Trường Sa.

Ta tiếp tục cong người hay ta đứng dậy ?. Ta sẽ kêu lên. Đúng ! Kinh thánh nói: “Khởi thủy là lời !” nhưng từ “bịt miệng” đến “bóp cổ” quá ngắn và quá nhanh. Kinh nghiệm mách bảo tôi, tốt nhất là không nên giãy. Nếu giãy nữa là sẽ chết dưới tay một thằng du côn. Sau đó một lãnh đạo bộ công an đã nói với tôi không nên đi biểu tình vì “không nên giây vào với thằng du côn (Trung Quốc) đó”. Dần dần một nỗi buồn sâu xa hơn xâm lấn cảm xúc mình. Đó là nỗi buồn của đất nước nhược tiểu. Ta muốn làm bạn, ta mở cửa nhưng tất cả chỉ đến với chúng ta vì 85 triệu dân này đang bán sức lao động rẻ mạt cho họ và xài đồ tiêu dùng của họ. Nơi đây là mảnh đất màu mỡ cho các tư bản và quan tham chia chác. Nơi thiếu vắng pháp quyền là đất tốt của vi phạm và làm giàu bất chính. Nơi thiếu vắng dân chủ là tổ của bạo lực và sự yếu hèn. Nhưng khi muốn làm bạn với tất cả các nước là chúng ta cô đơn nhất. Bởi vì bản thân quốc gia không có bạn. Quốc gia chỉ có lợi ích mà thôi.

Tôi đã hát, đã hô đả đảo Trung Quốc nhưng cũng thấu hiểu sự bơ vơ đến độ khủng hoảng của Lãnh đạo Đảng Cộng sản ngay sau khi Liên Xô sụp đổ và cầu xin được gặp Trung Quốc “Bất cứ nơi đâu, nói về bất cứ vấn đề gì”. Trung Quốc đã lơ đi nhiều lần và cuối cùng đã cho phép gặp ở Thành Đô – Tứ Xuyên. Nhờ nhượng bộ nhiều điều mà có bình thường hóa quan hệ tháng 11 năm 1991. Bình thường bang giao được với Trung Quốc giống như ta đã đưa tay xé rách được một tấm ni lông khổng lồ bịt kín toàn vùng biên giới. Cũng nhờ đó có được bình thường hóa Quan hệ với Mỹ tháng 7 năm 1995. Lịch sử ngoại giao hiện đại cũng nhiều điều làm cho ta suy nghĩ sâu hơn.

Tám chữ để lấy Thế và Lực

Giống như đoàn ngừoi biểu tình bị xua đuổi, tôi lo sợ một ngày ngừoi Việt chúng ta bơ vơ ngay chính trên quê hương này. Suốt cả tuần không làm được gì cả, chỉ đọc tin tức và suy nghĩ linh tinh. Nhưng rồi, tôi lạc quan và bắt tay viết những dòng chữ này bởi vì lịch sử Việt Nam và xu thế thời đại đều cho ta hy vọng. Vấn đề là Đảng Cộng sản có sáng suốt lựa chọn hay không. Thay vì độc tài hãy chọn dân chủ. Thay vì chọn ý thức hệ Cộng sản, hãy chọn một ý thức dân tộc Việt Nam. Thay vì muốn làm bạn với “tất cả các quốc gia” hãy chọn một người bạn mạnh để liên minh. Thay vì cúi gập người trước Trung Hoa hay cực đoan chống lại, chúng ta hãy giữ quan hệ thuận hòa.

Do vậy, để có thể khẳng định được vị thế của mình và “sánh vai với các cường quốc” trong nửa đầu thế kỷ này, Việt Nam cần thiết lập và kiên trì theo đuổi một phương ngôn 8 chữ như sau “Liên Mỹ - Hòa Hoa – Dân Tộc – Dân Chủ”. Theo đó, Liên minh với Mỹ - Hòa hoãn với Trung Hoa là đối ngoại. Đề cao chủ nghĩa Dân tộc – Triệt để thực thi Dân chủ là đối nội. Tất cả những vấn đề đó có liên hệ với nhau. Và đầu tiên phải bắt đầu bằng một chiều ngược lại trong 8 chữ trên. Nghĩa là mọi việc phải bắt đầu từ Dân Chủ.

Chỉ có thực thi dân chủ thực sự con người Việt Nam chúng ta ở trong và ngoài nước, cờ vàng, cờ đỏ mới đứng lại với nhau, nhận nhau là anh em trong tình đồng bào và nhờ đó tinh thần dân tộc được nâng lên. Và khi đã đoàn kết được chúng ta trở nên mạnh mẽ và với ưu thế của cộng đồng Việt Nam ở Hải Ngoại, một khi đã được thông suốt về sức mạnh, sẽ là ảnh hướng tích cực lên chính sách đối ngoại của nước ngoài và việc Liên Minh với Mỹ dễ dàng được thực thi. Việc hòa thuận với Trung Hoa cũng cho phép chúng ta Liên minh dễ dàng hơn với Mỹ và ngược lại vì Liên minh với Mỹ chúng ta có thể hòa hoãn một cách tương đối với Trung Hoa. Nhược bằng, nếu không có dân chủ, chúng ta sẽ mất hết. Bất cứ sự độc tài nào đều là phản động.

Khi còn là sinh viên đại học luật, trong một cuộc thi hùng biện – Tôi đã chọn đề tài là lịch sử hình thành dân tộc, vượt lên trên nhiều lý do khác nhau, có 2 lý do điển hình là: Chống giăc ngoại xâm và phòng chống lũ lụt. Tinh thần dân tộc khi đứng trước những hiểm nguy chung bỗng nhiên trỗi dậy, mạnh mẽ và cấu thành một cơ chế hợp tác chung gọi là tổ quốc. Các nghiên cứu về xã hội dân sự gần đây của tôi cũng cho thấy rằng trong các nguồn vốn để phát triển, thì vốn xã hội (social capital) đóng một vai trò hết sức quan trọng. Vốn xã hội chính là tinh thần dân tộc, là văn hóa, là phong tục, tập quán Việt Nam..Việc tận dụng cơ hội này để đối thoại và đoàn kết, kiên trì theo đuổi 8 chữ trên chính là cách thức tốt nhất để chúng ta xây dựng và củng cố vốn xã hội nội bộ đang dần dần phục hưng trong lõi Dân tộc Việt Nam.

Trước hết, để nhìn lại bài học ngày hôm qua, Liên Mỹ nghĩa là để cho đoàn sinh viên biểu tình đi thêm chút nữa về hướng Đại sứ Quán Mỹ. Đừng dồn họ vào hồ Giảng Võ, bắt những người trẻ đó cởi áo có cờ tổ quốc ra trong gió rét và đánh đập dã man. Hòa Hoa là đừng xé cờ Trung Quốc, dẫm đạp lên đất và gào thét “đả đảo quá nhiều” mà biết tổ chức và hô những câu hay hơn, ý nghĩa hơn. Dân tộc là biết ngợi ca tất cả các cuộc biểu tình ôn hòa của người trong và ngoài nước, nghĩa là đặt quốc gia Việt Nam trên hết, quyết định hơn bất cứ một ý thức hệ ngoại lai nào. Dân chủ là để cho dân “được mở mồm ra nói”, đừng bóp cổ anh em khi họ hát quốc ca, đừng vứt họ lên xe, đừng xua đuổi, hô họ là xì ke, là báo chí hãy đưa tin tích cực… Làm được như 8 chữ thì may mắn thay cho Việt Nam. Nếu không ngay cả một quốc gia cũng có thể mất đi như nhiều quốc gia đã vĩnh viễn biến mất trong lịch sử phát triển loài người.