Saturday, March 28, 2020



VIRUS CORONA VÀ SỰ CÔ ĐƠN VĨ ĐẠI 

 
Vào một thơi điểm nào đó trong cuộc đời, những người có lương tri thường phải đi tù hoặc ở ẩn. Ở đây phải hiểu theo nghĩa đi tù hoặc ở ẩn chính là sự tách mình ra khỏi đời sống thường nhật hằng ngày để có dịp suy nghĩ về chính mình. Lúc đó ta có thời gian để đi sâu hơn nữa trong chính con người mình, khám phá và điều chỉnh lại cả tâm sinh lý, trí tuệ và tình cảm của mình.

Tôi đã tự rời khỏi Hà Nội về vườn Rosen tròn 1 tháng. Nơi đây tôi lại tiếp tục công việc viết sách và làm vườn. Khi im lặng một mình nhìn những cây cối ra hoa và kết trái, tôi nghĩ đó chính là thành quả của quá trình sinh trưởng mà cái gốc cây mới là nền tảng. Như một người bạn của tôi đã từng nói “Cô đơn chính là gốc còn vui vẻ là hoa trái”.

Gần đây nhà thờ đóng cửa. Tôi không đi lễ nhưng tôi vẫn thấy rất gần gũi với Thượng Đế. Tôi lại nhớ cảm giác khi còn ở trong trại An Điềm, chiều chiều một mình nhìn lên ngọn núi ngay phía sau phòng giam và cầu nguyện và tôi cứ cảm thấy như Chúa ở ngay trong lùm cây xa xa đó. Ngài theo dõi từng ngày tôi tuyệt thực phản đối chế độ nhà tù, hay toạ kháng phản đối Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông. Không phải việc thường xuyên đi đến lễ nhà thờ là được gần gũi hơn với Thiên Chúa mà quan trọng là sống đạo, là để lòng chúng ta nảy nở và dài rộng đến vô biên, chạm được Thiên Chúa và Tha nhân. Thử nghĩ lại xem chỉ mấy chục năm trước đã có rất nhiều nơi ở Việt Nam giáo dân 1-2 năm không hề có thánh lễ, còn xa xưa hơn nữa các tín hữu có thể trong suốt cả cuộc đời chỉ có thể chỉ được một lần dự lễ khi một vị truyền giáo ghé qua.

Ngay đêm qua thứ 6 ngày 27/3, trong vườn Rosen tĩnh mịch, tôi vẫn cùng mẹ chờ đón Đức Thánh Cha Francis ban phép lành Toàn xá Urbi et Orbi từ Vatica nước Ý. Đây là một sự kiện chưa từng có khi chỉ có một mình Ngài, đi trong mưa, giữa quảng trường thánh Peter để đến nơi cầu nguyện cho Thế giới. Giáo hội đã minh định rằng những người đón nhận phép lành qua truyền hình trực tiếp cũng được ơn ích như chính hiện diện tại quảng trường. Như vậy quan trọng nhất là tấm lòng, nó giống như từ trái tim đến trái tim, không một khoảng cách vật lý nào có thể đo đếm được. Công nghệ đã cho phép chúng ta cảm nhận được tin mừng đi sâu vào từng ngõ ngách, từng tâm hồn cá nhân trên khắp thế gian mà không cần sự hiện diện.

Sống trong đời, nên phải một lần phải thật riêng tư vì chúng ta đã sum vầy quá nhiều. Chúng ta phải tách mình ra khỏi đám đông rồ ga thật to mà không chuyển động. Không một ai có thể xác định được bạn đang cô đơn hay đang sum vầy bởi trạng thái tâm lý đó nó nằm chính trong tâm hồn bạn. Có những lúc bạn sẽ thấy cực kỳ cô đơn giữa một biển người, có những khi chỉ một mình cũng thấy lòng ấm áp lạ. Tất cả chỉ là những trạng thái tâm lý mà chúng ta nên và phải nếm trải. Có những sự cô đơn héo úa buồn bã nhưng cũng có những sự cô đơn vĩ đại. Các triết gia, nhà văn, nhà tư tưởng...hầu hết sống trong sự cô đơn vĩ đại. Tôi đã từng thấy lạc lõng giữa những buổi lễ cả ngàn người vì như mình không thuộc về nơi đó. Tôi cũng thấy cả những cơ cấu thể lý khổng lồ đang hoang mang tột độ vì sự trống rỗng của nó.

Nhiều người đã nói về một mặt trái của Virus Corona, đó là gia đình được ở bên nhau, chăm sóc yêu thương nhau nhiều hơn, hoạt động học tập online được phát triển hơn... tuy nhiên theo tôi nếu có điều gì quan trọng thì đó là sự “cách ly”. Điều các bạn nên làm là hãy yên lặng một ngày - chỉ một ngày thôi – cũng đừng ăn gì cả. Bạn bỏ hết điện thoại và các phương tiện truyền thông khác, ngồi và suy nghĩ về mình, lắng nghe hơi thở của chính mình. Vào cuối ngày, Bạn chậm rãi ghi lại một vài điều mà mình cho là quan trọng. Cô đơn chính là lúc chúng ta soi vào tâm hồn mình, càng riêng tư, càng tĩnh lặng chúng ta càng thấy nhiều vết bẩn mà trong cuộc sống náo nhiệt chúng ta đã vô tình lãng quên. Những yếu kém, vết sẹo xước dọc ngang trong lòng sẽ hiện lện cụ thể và đậm nét hơn. Bạn thấy nó, nghĩa là bạn đang dùng tâm thức để lau nó và chính lúc đó tấm gương lòng của chúng ta sẽ sáng hơn.

Tôi vẫn cho rằng Virus Corona này là một loại vũ khí sinh học do loài người làm ra, vô tình bị sổng ra giữa Vũ Hán và lây lan ra giữa cuộc đời. Nó rất tồi tệ, nhưng cũng như chủ nghĩa cộng sản, nó là một cái roi mà Thượng Đế dùng để làm thay đổi thế giới này. Quả thật thế giới sẽ không còn như trước nữa vì chính mỗi một chúng ta đang thay đổi từng ngày.

Đối với Việt Nam, tôi đã cố tĩnh lặng nhưng vẫn hồi hộp làm sao đó.






LỜI CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2020

Chỉ còn mấy giờ nữa là bước sang năm 2020, bắt đầu một năm mới, một thập kỷ mới. Tôi ngồi trên máy bay biên lại đôi dòng cảm nhận.

Kể từ năm ngoái, dưới sự can thiệp của một số người và một số quốc gia, tôi được cấp lại hộ chiếu. Cũng kể từ năm ngoái, tôi đã đi lại đúng 10 nước trên thế giới, và hôm nay chuyến bay cuối ngày trong năm đưa tôi về đất mẹ - Việt Nam. 

Tôi nhớ lại chuyến bay cách đây 12 năm, cùng gia đình từ Hoa Kỳ quay lại Việt Nam, ngay sau đó là lúc tôi bị cầm tù lần đầu. 10 năm hoạt động với 3 lần ngồi tù. Bị theo dõi, đánh đập, quản chế... tôi chợt nhận ra tất cả những điều đó không làm tôi khác đi. Tôi vẫn vậy, vô cùng nhạy cảm trước những biến cố của chính mình và tha nhân. Tôi vẫn vậy, đau đáu với những gì đang diễn ra trong gia đình mình, trên quê hướng đất nước Việt Nam mình. Tôi vẫn là mình với một nhân dạng (Identity) duy nhất. 

ĐI LÀ ĐỂ CẢM NHẬN 

Quả thật, trong suốt 10 chuyến xuất ngoại trong thời gian qua: khi chứng kiến một con linh dương đầu bò ở Kenya bị sư tử vồ hay một mình đi bộ dọc bờ sông Potomac; khi đứng dưới tuyết lạnh ở Riga của Latvia hay ngồi trên lên chiếc ghế tôi đã từng ngồi ở Boston; trong những lần gặp mật vụ hay chiến hữu dân chủ để vượt thoát hoặc trút bầu tâm sự... đều để lại những khoảng khắc quan trọng đầy xúc động trong tôi. 

Tôi cảm hết, trong trái tim dễ rung động này. Tôi chụp ảnh hết, bằng chính đôi mắt ngỡ ngàng này và tôi lưu giữ hết, trong trí não đã bắt đầu nặng suy tư của mình. 

Những chuyến đi của tôi không phải là để tuyển mộ thành viên hoạt động lật đổ hay vận động quốc tế để lên tiếng cho những người đang bị giam cầm. Tôi biết nó rất ít tác dụng. Nhưng tôi đi là để khẳng định lại một giá trị mới bằng chính đôi chân của mình, là sự tự lực cánh sinh cho mình sau những vùi dập của chế độ độc tài.

Tôi đi là để cảm nhận không gian rộng lớn trên trái đất và để thấy cả những hành tinh mới trong lòng người. Để gặp những tỷ phú nhưng cũng là để đắp chăn cho người vô gia cư vào đêm gần Noel đang ngủ bên ngoài một thư viện giữa tuyết rơi. Tôi thấy 10 năm là rất dài so với một đời người, đặc biệt là 10 năm của giai đoạn có thể làm việc và cống hiến nhiều nhất. 

ĐI LÀ ĐỂ CHUẨN BỊ 

Tôi cũng đi để thấy 10 năm, 20 năm cho sự thay đổi của một quốc gia là quá ngắn. Lịch sử thường gõ cửa rất khẽ và chỉ dành cho những ai biết chuẩn bị mở. Nếu muốn có một ngôi nhà mới nhưng không bao giờ chuẩn bị nhân sự, vật liệu thì sẽ không bao giờ có được ngôi nhà dù cho gió bão có thể thổi bay ngôi nhà cũ hôm nay. Lịch sử cho thấy giật gấu vá vai về chính trị thường để lại hệ luỵ vô cùng nặng nề. 

Tôi đi là để thấy và để chuẩn bị. Tôi thấy chúng ta cần làm nhiều hơn nói, cần sống có nguyên lý hơn là theo tâm lý, cần phải tích cực chuẩn bị kỹ hơn là a dua ăn theo. 

Trong hơn 1 năm đi rất nhiều nước bao gồm cả Hoa Kỳ và Trung Quốc, gặp nhiều người giỏi và quan trọng. Tôi cũng thấy năng lực mình hạn chế và bớt viển vông. Tôi cũng cảm nhận thế giới đã thay đổi rất nhiều và lo ngại hơn cho Việt Nam. Hoang mang là cảm giác chính xác.

TÍNH VỊ KỶ VÀ SỰ TÔN TRỌNG KHÁC BIỆT

Dù Trung Quốc hay Hoa kỳ thì quốc gia đó luôn vì lợi ích của chính nước họ. Quả thật, tính vị kỷ - vì mình - là bản tính bền vững và cố hữu nhất, tồn tại và phát triển cùng với sự tiến hoá của loài người. Tính vị kỷ không chỉ dành cho cá nhân, mà còn cho quốc gia. Đặng Tiểu Bình đã từng nói: “Quốc gia không có bạn”. 

Giả sử có một lực lượng chống cộng làm một cuộc cách mạng dân chủ, quay lưng lại hoàn toàn với chính quyền Trung Quốc hiện tại, họ có để yên không? Ngược lại một chế độ dù là cộng sản nhưng thân Mỹ, liệu chính quyền Mỹ có để yên? Nghe đâu đó hai bên đang chuẩn bị kỷ niệm 25 năm bình thường hoá quan hệ và rất có thể là “đối tác chiến lược toàn diện” trong thời gian tới. Ai là bạn, ai là thù?

Tuy nhiên, tôi đi còn là để tranh luận riêng tư và khẳng định lại một giá trị tuyệt vời: Đó là tôn trọng sự khác biệt; để thấy những giá trị tốt đẹp như lòng chung thuỷ, sự bao dung, công lý và nhân quyền....vẫn còn vang vọng đó, liên tục hơn, mạnh mẽ hơn giữa một thế giới ngày càng tục hoá, vật chất hoá và sự phân hoá giàu nghèo ngày càng cao. Con người ta đều theo đuổi những mục tiêu riêng của mình và như Đức giáo Hoàng Francis đã nói: “Tôi là ai mà phán xét”. Tôi liên tục học cách tôn trọng, cả từ những người cộng sản và chống cộng. 

Đi là để thấy sự tôn trọng khác biệt khi các nghị sỹ phương tây lên tiếng mạnh mẽ cho dân chủ và nhân quyền của Việt Nam nhưng miếng bánh quyền lợi vẫn thông qua các tập đoàn kinh tế, trồi lên trong từng bữa ăn của nhân dân họ. Thấy cả CPTTP và EVFTA rồi sẽ cũng sẽ được thông qua nhưng lợi ích chỉ chạy về những quốc gia khôn ngoan hơn, chuẩn bị kỹ hơn. 

Tôn trọng bởi bao nhiêu tập đoàn đấu tranh cho một truyền thông độc lập nhưng có lẽ phải như Trump nói, “sự độc lập chỉ là fake”. Chúng ta phải lựa chọn và nên lựa chọn. Đen hay trắng, đỏ hay xanh.....là do sự lựa chọn theo với chính sự khôn ngoan của người đó. Tự do cao nhất là tự do lựa chọn còn sự thực không có một sự độc lập nào hết giữa một thế giới đầy vị kỷ như hôm nay. Chúng ta chỉ có thể độc lập giữ gìn lý tưởng cho là thiêng liêng của mình chứ không thể độc lập đứng giữa các quan điểm. 

LỜI CHÚC NĂM MỚI 

Đã khuya vào đêm 31/12 và giờ đây máy bay sắp hạ cánh. Tiếp viên thông báo tắt máy tính. Giờ đây tôi nhớ những người tôi đã gặp, những chốn đã qua trong năm 2019. Tôi đã học hỏi được rất nhiều trong một thời gian ngắn. Xin nhận từ tôi lòng biết ơn sâu nặng. 

Và những khoảng khắc thiêng liêng đang đến, nào chúng ta hãy cùng nghe bài hát “Auld Lang Syne” dưới đây và nâng ly chúc mừng năm mới 2020 - một năm đầy cơ hội cho những ai biết chuẩn bị. 
Happy New Year 2020.

Sunday, November 10, 2019

CẢM XÚC VỀ NGÀY HỘI TRƯỜNG 40 NĂM ĐẠI HỌC LUẬT




Cuối tuần qua tôi tham gia một số hoạt động kỷ niệm 40 năm thành lập trường Đại Học Luật. Dự định sẽ không viết gì nhưng trong lòng vẫn cứ thấy mắc nợ một cái gì đó nên ngồi viết ra cái Status nhiều cảm xúc này.  

Đây là lần đầu tiên tôi gặp gỡ và nhìn thấy cùng lúc đến 2 uỷ viên Bộ Chính Trị (Trần Quốc Vượng và Trương Hoà Bình), 10 UVTW đảng cộng sản, nhiều chủ tịch, phó chủ tịch các tỉnh, Bộ trưởng, thứ trưởng, Giám đốc công ty lớn và rất nhiều người có ảnh hưởng xã hội...

Đứng trong một không gian đông và có rất nhiều người làm to của đảng cộng sản cầm quyền, là một người hoạt động xã hội, đấu tranh cho tự do dân chủ và từng bị chính quyền đương thời cầm tù 3 lần. Tôi thấy chính mình và những người tham dự nợ nhân dân này nhiều quá.

Đứng giữa những người có thân hình cao và làm quan to. Tôi thấy mình nhỏ bé cả về vóc dáng và sức ảnh hưởng. Đó là một cảm giác rất thật và không thể biện minh. Nhưng lớn hơn điều đó, tôi thấy mình có lỗi trong từng phút giây hiện diện. Tôi thấy mình bất lực. Cảm giác đó thấm đẫm và nhấm nháp, như vành môi trên li rượu vang, ăn xuyên qua chính mình, bạn bè mình, qua những người quan trọng đang hiện diện giữa một không gian hoành tráng và kéo dài rất lâu.

Theo thống kê thì hiện nay đang có 5 uỷ viên Bộ chính trị, 77 Đại biểu quốc hội, hàng chục bộ trưởng, thứ trưởng, chủ tịch tỉnh, hàng trăm cục, vụ, viện trưởng đương nhiệm là sinh viên Đại Học Luật. Ngoài ra còn rất nhiều người học tại trường luật đã làm to từ các khoá trước vẫn tiếp tục ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình xây dựng chính sách và phát triển của Việt Nam. Không ở đâu xa, chúng tôi, là, và phải là những người có khả năng thay đổi đất nước Việt Nam cho tốt đẹp hơn. Nhưng chúng tôi đã làm gì?.

Là bạn bè gặp nhau trong ngày hội trường và tuổi cũng đủ lớn để rất ít người nói và khoe về quan điểm chính trị hoặc sự thành đạt. Tuy nhiên, vượt lên trên sự phản động và chống phản động, chúng tôi là người Việt Nam, là đồng môn cùng hiện diện trong một không gian vào cùng một thời điểm. Có ai nghĩ đất đất nước mình đã, đang và rồi sẽ ra sao?. Mình đã làm gì và sẽ làm gì? Trong không khí hân hoan và tự hào, sự cuốn hút của cương vị và tấm huân chương lao động Hạng nhất mà Trường nhận được lần thứ 2, không có giọng của Đại biểu Lưu Bình Nhưỡng nói về sự giả dối của xã hội hôm nay, vắng các luật sư tôi quen, vì hoặc đang ngồi tù hoặc đã phải đi lưu vong.

Tôi đi thăm lại Nhà pháp luật Việt Pháp nơi làm chiếc thẻ “thư viện” lần đầu tiên. Có nhiều lúc, tôi len vào đứng ở hội trường rồi lại đi ra sân, tôi ngắm nhìn ký túc xá và giảng đường năm xưa, cũng có lúc tôi lạc lõng giữa sân trường, lạc lõng với những điều đã học. Tôi thấy mình xa lạ với những lời tán tụng về thành công của trường vang dội hội trường.  

Tôi gặp những ngừoi bạn thân giờ là quan chức to của cộng sản. Họ bắt khi tôi giơ tay ra trước. Họ mỉm cười đáp lại khi tôi cười. Một đôi người vỗ nhẹ vào vai như ủi an một kẻ yếm thế. Chụp ảnh thì không. Chúng tôi xã giao và tế nhị lảng tránh nhau, chức càng cao, khoảng cách vật lý càng xa và sự e dè càng lớn. Mặc dù có vẻ như tình bạn thì vẫn còn đâu đó vẹn nguyên trong sâu thẳm tâm hồn.

Bao nhiêu lời tự hào đã được nói ra, bao nhiêu thành công đã được nhắc đến, nhưng liệu có bao nhiêu người trong số 122.000 sinh viên và học viên các thế hệ trường luật cảm giác có lỗi với một đất nước nghèo đói, một nền tư pháp bất công và những vấn nạn xã hội đang lan tràn?  Tôi biết, nhiều bạn bè cũng hiểu nhưng tuyệt đối dấu kín quan điểm chính trị, còn tôi không một mảy may xuất hiện ý định cướp Micro hùng biện về sự thay đổi hoặc lên án xã hội, vì tôi yếu đuối và bất lực?. Không ! Tôi biết không có hiệu quả, ngoài ra còn bởi lý do khác:  

Đó là tôi gặp lại thầy Thìn “sát sinh viên” người đã phải đóng Barrier khi tôi cùng một nhóm sinh viên hô hào bỏ học và kéo ra đường sau lần cướp được Micro đầu tiên sau một buổi biểu diễn văn nghệ mini gần 25 năm trước. Thầy mỉm cười thật tươi và hiền, dù ốm thầy đang ốm.

Tôi cũng thấy ấm lòng khi có ít nhất 2 thầy giáo nhìn thấy tôi từ xa, lách người qua bao nhiêu quan chức, đi thẳng đến và gọi tên “Em Quân”. Lúc đó tôi thấy lòng mình tràn ngập tình Thầy trò và lòng mến yêu thực sự.

Nhưng đến để yêu và vui thì chưa bao giờ đủ, đặc biệt cho cả một quốc gia.  

Thursday, May 09, 2019

BÙI CHU - CÁI GỐC CỦA GIÁO PHẬN ĐÀNG NGOÀI



Năm 1651 cuốn Phép giảng tám ngày (Cathechismvs in octo dies diuisus) và cuốn từ điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) do cha Alexandre De Rhodes thuộc Dòng Tên in tại Roma, người ta bắt đầu biết đến Việt Nam như là một địa hạt đầy tiềm năng truyền giáo. Dứt điểm rằng Bùi Chu là một trong những địa hạt truyền giáo đầu tiên và mạnh mẽ nhất. Hơn 100 năm trước đó, vào 1533 là lúc sử sách có chính thức ghi lại thì Cha Ignacio cũng là đến làng Ninh Cường, Trà Lũ, Huyện Giao Thuỷ thuộc địa phận Bùi Chu  ngày nay. 


Cuốn từ điển Việt – Bồ - La do Cha Alexandre De Rhodes được in tại Roma vào năm 1651 mô tả nhiều âm tiết có hương vị Đàng Trong, kế thừa nhiều từ những âm tiết giản lược tối đa của Cha Francois De Pina

Chỉ vì một lần gặp gỡ định mệnh với Cha Alexandre de Rhodes mà Cha Francois Pallu đã trở thành nhà truyền giáo nhiệt thành ở Châu Á. Để rồi Ngài cùng với Đức Cha Pierre Lambert de la Motte trở thành 2 Giám mục đầu tiên tại Việt Nam, thành giám quản Tông toà giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong vào năm 1659. 

Với tư cách là Giám mục Địa phận Đàng Ngoài trong suốt 21 năm (1658-1679), tôi tin rằng nơi mảnh đất có nhà thờ Chính Toà hôm nay dày dấu chân đại diện của Đức Cha. Thật vậy, bởi Đức cha Francois Pallu không thể đến được Việt Nam nhưng Đức Cha Lambert de la Motte đã thường xuyên qua lại vùng đất này. Các cứ liệu lịch sử cho thấy Ngài đi dọc sông Ninh Cơ, dừng trên mảnh đất này, đã đến Kiên Lao để lập dòng Mến Thánh Giá ở đó.

Đức Cha Francois Pallu – Giám mục tiên khởi của Giáo phận Đàng Ngoài từ năm 1658 đến năm 1679. Dù chưa một lần đến Việt Nam, Ngài là Giám mục tiên khởi của giáo phận Bùi Chu. 

Bùi Chu – Cái tên đẹp đó là khởi nguồn cho cả một vùng truyền giáo mạnh mẽ khắp cả một vùng đồng bằng Bắc bộ phì nhiêu và đầy lòng sốt mến. Giáo xứ Bùi Chu được thành lập vào năm 1670, cách đây vừa đúng 349 năm, là thời kỳ Đức Cha Pallu làm Giám Mục. 

Tôi cứ nhắm mắt lại hình dung về hình ảnh “Những người muôn năm cũ/Hồn ở đâu bây giờ (Vũ Đình Liên)”. Thưa – Hồn các Ngài vẫn còn đó – Nơi giáo xứ Bùi Chu, nơi Nhà thờ Chính Toà Bùi Chu, mà có lẽ lúc đầu tiên, hơn 350 năm trước, chỉ là một mái nhà tranh lợp bằng rơm, bằng rạ. Các con chiên đầu tiên, tóc búi tõ, quây quần ríu rít bên một Cha người Tây dạy bằng Tiếng Việt về “Nhưn dinh Cha” Hay “Nhưn dinh các cha”. 

Bùi Chu, nơi đó hơn 350 năm trước, những người Việt lạc hậu và nhỏ bé nhưng với một trái tim vô cùng nhiệt thành với đức tin, cố gắng tìm hiểu xem mầu nhiệm Ba Ngôi là gì ?. Trinity là gì ? Sao Ba Ngôi là một Chúa, mà Một chúa lại có Ba Ngôi và Ngôi nào cũng là Chúa?, Họ cũng bắt đầu hát những từ Latin mà không hiểu nghĩa. Khi đó vỏ Ngôn từ đã bay về phương Chánh Niệm, chỉ còn tín thác, tin yêu. 

Tôi tin rằng, không phải đợi đến cuộc họp Hợp chuẩn về Tiếng việt vào năm 1645 tại Nhật Bản do Cha Jaspal De Amaral chủ trì để thống nhất rằng “Nhưn dinh Cha chính là Nhân Danh Cha” và cũng chính là “Nhân danh các Cha” mà, trước, trong và sau khi đó, những ngừoi con Bùi Chu đó đã quây quần bên ngôi nhà thờ bé nhỏ mà khi đó có thể chỉ là một cái hang Toại đạo, đã cùng nhau xác tín một niềm tin tuyệt đối vào Đấng Tối Cao – Đức Chúa Bloi của mình. 

Lần lượt qua các Đức Cha Deydier Điển năm 1679, Lezoli Cao, Hylario Hy.... cho đến Cha Wenceslao Onate Thuận xây nhà thờ vào năm 1884, Giáo xứ Bùi Chu dứt điểm là một nơi mà các Ngài thường lui tới, họp bàn, mở mang Nươc Chúa; Nơi những người Annam chúng ta biết về một Đức Vua, vượt trên tất cả các Đức vua của trần gian. 
Đức Cha Wenceslao Onate Thuận – Người xây dựng Nhà thờ Chính Toà Bùi Chu 135 năm trước. Ngài đã ở Thiên Đường – Mong Ngài sáng soi cho chúng con biết “việc phải làm” để gìn giữ ngôi Thánh đường và “từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa”

Bùi Chu - nơi Đức Cha Nguyễn Năng Tĩnh đầy khôn ngoan và quả cảm, vượt qua biết bao nhiêu khó khăn thời kỳ sắt máu để giữ vững ngọn lửa đức tin từ năm 1960 đến 1974. Ngày đó Ngài đã ra đi đột ngột trong sự tiếc thương vô vàn của con cái Chúa. Cá nhân tôi tin rằng Đức Cha bị cộng sản đầu độc. 

Bùi Chu – đêm nay tôi buồn đến khóc. Có thể vì tôi lạc hậu, có thể vì tôi sống với quá khứ. Thế nhưng tôi biết rằng: Một khi Nhà thờ Chính Toà bị dỡ bỏ, thì đâu đó các Linh mục ưa xây cất, sẽ đồng loạt dỡ bỏ rất nhiều ngôi nhà thờ xứ, nhà thờ họ hiếm hoi còn sót lại. Và rồi, 50 năm sau, 100 năm sau con cháu chúng ta sẽ nhìn thấy gì và nghĩ gì ?

Tôi buồn vì nghĩ đến ngày đó, nhưng tôi cũng hy vọng. Tôi hy vọng vào quyền năng của Thiên Chúa, và cách Ngài tác động lên các đấng chủ chăn. Sống với quá khứ, là tôi nghĩ đến hơn 2000 năm đã trôi qua từ khi Ngôi Hai đến với loài người, và giờ đây Loài người vẫn nhìn đến Kito giáo như cả “Một nền văn minh” dù bao nhiêu sự tàn phá đã và đang xảy ra. 

Bởi hy vọng nên tôi chờ. Và như một triết gia đã nói “Toàn bộ khôn ngoan của loại người nằm trong hai chữ: Hy vọng và Chờ đợi.









Sunday, May 05, 2019

VỀ VIỆC PHÁ DỠ NHÀ THỜ BÙI CHU


VỀ VIỆC PHÁ DỠ NHÀ THỜ CHÍNH TOÀ BÙI CHU


Kể từ khi báo chí đưa tin về việc Nhà thờ chính toà Bùi Chu sẽ bị dỡ bỏ (dùng từ cổ một cách tôn kính là “hạ giải”) vào ngày 13/5 tới để xây nhà thờ mới, rất nhiều phương tiện truyền thông đã đề cập với nhiều ý kiến trái chiều. 
Là một người Công giáo, yêu mến hoạt động xã hội và quan tâm đến vấn đề này, nhiều người bạn trong và ngoài công giáo, đã hỏi tôi nhưng tôi chưa có ý kiến vì mình chưa có đủ thông tin. Hôm nay Chúa Nhật ngày 5/5/2019 chúng tôi đã có dịp về thăm nhà thờ chính toà Bùi Chu và một số giáo xứ thuộc Giáo phận Bùi Chu. Khi đến TGM lúc 4h chiều thì một thánh lễ đang diễn ra. Chúng tôi đã tìm hiểu xung quanh nhà thờ, vào trong nhà thờ và đã gặp gỡ một số linh mục, giáo dân cũng như một số khách đang hành hương thăm quan nhà thờ.

Thánh lễ đang diễn ra với hàng trăm người tham dự, Cung thánh sơn son thiếp vàng rất ấm cúng, đượm màu thời gian.

Ân tượng đầu tiên của tôi là ngôi nhà thờ đầu tiên của giáo phận Bùi Chu được xây dựng từ 1885 rất bề thế. Nhà thờ được xây dựng bởi Đức giám mục Wenceslao Onate Thuận với chiều dài 78m, rộng 22m, cao 15m. Giáo xứ được thành lập từ năm 1670.

Theo tìm hiểu chúng tôi được biết Giáo phận Bùi Chu dự tính dỡ bỏ nhà thờ này để xây dựng một nhà thờ mới, với cấu trúc tương tự như thế nhưng to hơn, rộng hơn ngay tại vị trí đất đó. Theo một linh mục cho biết thì nhà thờ hiện tại đã xuống cấp nghiêm trọng, nhiều đoạn tường nứt nẻ, cột lim trong nhà thờ đã bị mục, nền nhà thờ thấp... Nhà thờ có thể sập bất cứ lúc nào và để an toàn cho giáo dân thì nên xây mới. Quyết định này đã được hội đồng linh mục, bàn bạc nhiều lần, bỏ phiếu thông qua, đã chuẩn bị vật tư vật liệu và mô hình nhà thờ mới cũng được thiết kế.

Mảnh đất trong khu vực ô vàng là đã được mua lại của các hộ dân, cho thể dùng cho việc xây dựng nhà thờ mới

Đi sâu hơn tìm hiểu, trực tiếp gặp một số Chủng sinh và một vị linh mục cao trọng mà chúng tôi cho rằng có viễn kiến đang phục vụ trong Toà giám mục Bùi Chu, chúng tôi lại được nghe câu chuyện khác. Theo vị linh mục này thì Nhà thờ là một kiến trúc độc đáo, một bảo vật có giá trị tầm cỡ quốc gia, gắn liền với lịch sử phát triển của cộng đồng dân cư vùng châu thổ Sông Hồng. Ngôi thánh đường này vẫn có kết cấu rất vững chắc, trải qua rất nhiều cơn bão lớn nhưng vẫn đứng vững. Mặc dù hiện tại có những vết nứt nẻ ở các góc tường (nhìn mắt thường thì nhiều năm nay vẫn không dãn ra). Một số cột cũng bị hỏng, mái nhà thờ có kết cấu nặng...tuy nhiên những điều này hoàn toàn có thể khắc phục được nếu trùng tu. 

Với kiến thức và hiểu biết sâu rộng cuả mình, vị linh mục này cho biết giờ đây đã có rất nhiều công nghệ trùng tu mới hiện đại, nếu được áp dụng thì có thể kéo dài tuổi thọ nhà thờ, để lại cho thế hệ mai sau một giá trị tuyệt vời của Cha Ông và sẽ tăng dần theo thời gian.

Nói chuyện với giáo dân chúng tôi được biết kiến trúc cổ đẹp đẽ này gắn liền với những ngày đầu gian khó, những ký ức thương qua nhiều thời kỳ, với nhiều thế hệ giáo dân. Giáo dân và Linh mục còn nhắc tới ngôi nhà thờ đổ ở Xã Hải Lý, giờ chỉ còn một tháp chuông nhưng vẫn thu hút được nhiều du khách thập phương. Sự yêu thương gắn bó với Giáo hội thường đến từ việc chăm chút gìn giữ theo thời gian chứ không phải "đùng một cái đẻ ra trong từng – triều đại". 

Trả lời cho chúng tôi về giải pháp làm sao để giáo dân tiếp tục có nơi rộng rãi, an toàn để thờ phượng. Vị linh mục đã mở bản đồ chỉ cho chúng tôi thửa đất phía sau đài Đức Mẹ, đối xứng với Nhà thờ hiện tại. Miếng đất này hình chữ nhật có chiều dài tới 200m, chiều rộng gần 100m và đã được đền bù thành "đất sạch". Như vậy đã có quỹ đất hoàn toàn đáp ứng việc xây dựng một ngôi thánh đường mới. Nếu theo phương án xây mới này thì chúng ta sẽ có một Nhà thờ đủ rộng và an toàn cho toàn bộ cộng đoàn, đồng thời vẫn giữ được ngôi thánh đường lịch sử 134 năm tuổi. 

Khi hỏi thăm cả linh mục và giáo dân về Quyết định dỡ bỏ và xây dựng, nhiều ý kiến cũng cho biết dù rất nhiều linh mục muốn giữ lại nhưng “có thể vì đức vâng lời” hoặc vì “dĩ hoà vi quý” mà đã chấp nhận hoặc không dám bày tỏ thẳng thắn ý kiến của mình.


Chiều Chúa Nhật 5/5/2019. Thật bình yên bên một tháp chuông đẹp, có đồng hồ đã gõ chuông thánh thót gần trăm năm, nhắc nhờ giáo dân đến với Chúa sáng chiều.

Mặc dù được biết rằng việc xây mới đã được chuẩn bị công phu nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể lắng nghe thêm các ý kiến và tạm hoãn việc phá dỡ trong những ngày tới để chờ sự đánh giá lại toàn diện của các nhà chuyên môn, của Viện bảo tồn di tích. 
Đây là một vấn đề rất tế nhị mà tôi nghĩ Nhà nước không thể nhảy vào và căn cứ theo Luật Di sản để can thiệp vì đã từng xảy ra như trường hợp Phát Diệm, Họ cấp chứng nhận di tích và sau đó lại định đặt barrier để thu vé, Giáo hội công giáo không thể chấp nhận chuyện đó, nhà thờ là Nhà chung, cho tất cả mọi người, không thể áp dụng việc quản lý của Nhà nước theo luật di tích. 
Cá nhân tôi kính đề nghị các Đấng bậc bằng cách nào đó “nghe lại” ý kiến của Linh Mục Đoàn một cách thẳng thắn, dân chủ và tự do, thì bằng trình độ, viễn kiến và lòng yêu mến Giáo Hội các Ngài có thể có một quyết định tốt nhất, phù hợp với hiện tại và mai sau.

Mô hình nhà thờ mới sẽ được xây dựng tại vị trí đang là nhà thờ cũ. 

Theo tôi phương án vẫn giữ lại nhà thờ và xây mới trên mảnh đất đối diện là tốt đẹp nhất. Tại nhiều di tích trên thế giới, bên cạnh những công trình đồ sộ, thường có một ngôi nhà thờ cũ được bảo tồn, và nơi đó, giờ đây lại là điểm thu hút khách và giáo dân đến nhiều hơn.