Friday, April 23, 2010

LỘN XỘN Ở QUỐC GIỖ HÙNG VƯƠNG


Hôm nay là ngày 10/3 Âm Lich, ngày giỗ tổ Hùng Vương. Một Lễ Quốc giỗ mà có những điểm chính mắt thấy được sau đây thì thật là đau lòng, Đây có thể được coi là một bi kịch văn hóa chỉ có ở thời kỳ dị giáo và loạn thần hậu Cộng sản Nguyên Thủy ở Việt Nam như bây giờ:

Điều đập vào mắt đầu tiên của phần Nghi Lễ quan trọng nhất là một đám người đứng lộn xộn phía trước đền chính, không hề có thứ tự, hàng lối và trang phục. Chủ Lễ diện com lê. Phần lớn đội đầu trần, một số khác mặc áo nâu, đội khăn xếp không hiểu là loại lễ phục gì đứng lung tung. Rải rác trong đám đông ngay trước khi dân hương còn đội mũ quân đội, mũ vải, mũ chìa…

Ngay trên hàng đầu cong queo là Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Đức Kiên, Nguyễn Thiện Nhân và một số quan chức khác, người thì chắp tay, người thì để tay thẳng đứng kiểu chào cờ, người thì đan tay trước bụng. Mặt Thiện Nhân trông như bị thần kinh cứ nhướn mắt, giật lông mày. Một nhân vật đứng thập thò phía sau cứ ghé sát tai Triết thì thầm như có việc gì. Những gương mặt kỳ dị, trông đau khổ và cau có. Cảnh tượng thật là bi hài, lố nhố hết sức;

Sau đó đoàn đứng bên trên được mời vào dâng hương. Nhóm Nguyễn Minh Triết (6 người) đi vào đứng trước điện thì được giao cho mỗi người 3 que hương. Sau khi giao xong thì một ông khác đến đứng ra thu lại hết ngay trên tay ông Triết, Kiên, Nhân, Thọ. Các ông này đứng ngẩn tò te một lúc, vẻ mặt trông lại càng đau khổ tợn

Sau đó thì có các em đưa hoa vào, mỗi trao cho mỗi người một bó hoa huệ. Khổ cái là hoa huệ lại bọc giấy bóng kính sáng phía sau như kiểu đi mừng sinh nhật. Các “đồng chí” cắm hoa vào thì bình hoa nhỏ mà bó hoa to nên nó đổ kềnh xuống. Tội Đồng chí Thiện Nhân phải dựng dậy mà nó vẫn nằm oặt ra. Sau khi cắm hoa xong thì các “đồng chí” mới được đưa hương cho và vái.

Màn vái hương thật vô cùng hài hước, người thì vái đứng chỉ hơi cúi đầu, kẻ thì gập mình thật sâu, khi kẻ này lên thì người kia xuống, lỗ đỗ như đâm gạo, lộn xộn vô cùng, có kẻ dừng người kia vẫn vái. Nhìn mặt quan chức nào cũng thấy tội nghiệp vì thiếu hiểu biết về nghi lễ, có người còn đội nguyên cả mũ nón quân phục đứng vái.

Sau phần vái là rót rươu. Rượu đựng ở trong 2 loại chai khác nhau, một vỏ chai nhựa Lavie, một bình cổ kiểu Trung Hoa rất đẹp. Bụp một cái, Triết rót đầy gần đầy 3 ly, khổ cho Thiện Nhân rót sau rón rén mãi đến đầy, Sau Nhân là đến ông Bí thư tỉnh ủy Phú Thọ, gắng mãi để thêm 1 giọt…cứ như vậy người đến sau chỉ làm giả bộ rót rượu vào nhưng vì cũng phải cố thêm 1 giọt nên nó tràn ra cả.

Hết màn rót rượu đám người lộn xộn lại kéo nhau ra sân. Trong khi các đồng chí khác vẫn tiếp tiếp tục vào thắp hương, đổ tràn rượu ra. Có kẻ hắt rượu đi để tiếp rượu vua Hùng. Trong khi các quan chức ở trong điện vẫn đang vái thì phía ngoài Chủ tịch nước đã đọc diễn văn.

Bài diễn văn của Triết Ngắn nhưng không quên nhắc đến công ơn ghê rợn của Đảng cộng sản. Vừa đọc Chủ tế vừa bạnh hàm bặm môi, kiểu như muốn dồn toàn bộ tức giận vào bài đọc. Ngài không quên nhắc Hồ Chí Minh nhiều lần và Đại Hội Đảng sắp đến.

Sau đó là phần báo cáo chính của Quan chức - Thứ trưởng Lê Tiến Thọ. Vì là nghệ sỹ sân khấu, Chàng đóng luôn làm diễn viên, đeo một cặp kính đen của thầy bói bắt đầu cẩn báo với các Vua Hùng. Đầu tiên chàng ca ngợi hôm nay: “Cờ đỏ sao vàng, thênh thang thánh điện” và báo cáo thành tích chiến nhau của Việt Nam. Kể từ thời Mẹ Âu Cơ đến nay. Suốt cả một bài dài đều ca ngợi tinh thần tẩn nhau của dân Việt với Trung Quốc và đỉnh cao là: “Đảng cộng sản như ánh Chiêu Dương lãnh đạo nhân dân đánh cho Mỹ cút – ngụy nhào”. Đọc cáo thư văn cổ mà giọng đọc gồng lên đanh thép như tiếng hô xung phong. Vua Hùng nghe xong chắc khiếp vía vì con cháu thật là gấu.

Bi hài nhất là đến đoạn cuối : “Nay gặp buổi”…..(lời văn cổ) không biết chuyển ý thế nào thành: “Nay gặp buổi Đảng ta đổi mới tư duy…” Nghe hết sức dở người. Bài đọc lẫn lộn giữa văn cổ và văn mới, từ dùng thì vừa hiện đại lại vừa mông lung, thô thiển nhưng lại mịt mù khó hiểu. Đám đông đứng nghe thì lộn xộn, quay ngang quay ngửa, có một phụ nữ có vẻ ra dáng tổng quản mama, hằm hằm quan sát.

Còn nhiều điều vô lý và nực cười khác nữa mà không thể nêu ra đây. Nói chung cả một chương trình tường thuật về Lễ hội Vua Hùng thể hiện rất rõ sự tột cùng băng hoại văn hóa và các nghi thức Nhà nước. Sau gần 50 năm “phá đền chùa làm kho hợp tác xã” Bây giờ bắt đầu một thời kỳ nhố nhăng khác, các nghệ sỹ cãi nhau về kịch bản, đạo diễn và tiền cát sê đến mức bỏ luôn việc lo Quốc giỗ, Chủ tế không biết cách làm sao cho đúng lễ, Quân sư quạt mo thì lợi dụng để đánh nhau, dùng thần thánh để lòe nhau, vừa huyênh hoang vô thần lại vừa sợ thánh vật.

Đây chính là hệ lụy văn hóa đau đớn mà con cháu Vua Hùng hôm nay phải gánh chịu.

Copy từ nhận xét của Lê Nguyễn Thái Hà

Thursday, April 15, 2010

THƯ REAGAN GỬI BREJNEV


Chưa đầy 6 tuần sau khi nhậm chức tổng thống, Reagan nhận được bức thư của tổng bí thư đảng Cộng sản kiêm Chủ tịch nước Liên Xô Leonid Brezhnev, tái khẳng định chính sách của Liên Xô bằng những lời lẽ cứng rắn. Reagan muốn bắt đầu một thời kỳ tan băng và đáp lại bằng một giọng mềm mỏng hơn.

Tháng 4/1981, Reagan ngồi trong nhà tắm nắng ở Nhà Trắng và thảo một bức thư cho Brezhnev trên loại giấy vàng. Mặc dù bản cuối cùng của bức thư được công bố vào năm 1990, bản nháp đầu tiên, viết bằng chữ của Reagan, tới gần đây mới được phát hiện.

____________o0o______________

Ngài Chủ tịch kính mến!

Tôi lấy làm tiếc nhưng tôi có thể hiểu được những lời lẽ có phần gay gắt của ngài trong bức thư gần đây. Dù sao chúng ta cũng nhìn nhận vấn đề từ những quan điểm triết học đối lập.

Phải chăng chúng ta đã để cho lý tưởng, quan điểm chính trị, kinh tế và các chính sách của chính phủ ngăn cản mình xem xét những vấn đề hằng ngày, rất thật của những người dân mà chúng ta đại diện? Liệu một gia đình trung bình của người Nga có sống sung sướng hơn hay thậm chí họ có biết được rằng chính phủ của họ đã áp đặt ý mình lên nhân dân Afghanistan ?

Trong bức thư của mình, ngài ám chỉ rằng những việc này trở nên cần thiết vì những tham vọng mở rộng lãnh thổ của Mỹ, rằng chúng tôi có những mưu đồ đế quốc và vì vậy là một mối đe doạ đối với an ninh của nước ngài và các quốc gia mới nổi. Không những không có bằng chứng cho lời cáo buộc đó, mà còn có bằng chứng rõ ràng rằng Mỹ, trong khi đã có thể làm bá chủ thế giới mà không gặp nguy hại gì, đã không theo đuổi nỗ lực nào tương tự như thế.

Khi Thế chiến II kết thúc, nước Mỹ có nền công nghiệp không bị tổn hại duy nhất trên thế giới. Sức mạnh quân sự đạt tới đỉnh cao và riêng mình chúng tôi có thứ vũ khí mạnh nhất, bom nguyên tử, cùng khả năng không cần phải bàn cãi là có thể đưa nó tới bất kỳ nước nào trên thế giới. Nếu chúng tôi muốn làm bá chủ thế giới, ai có thể chống lại chúng tôi? Nhưng nước Mỹ đã đi theo một con đường khác - con đường độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại. Chúng tôi sử dụng sức mạnh và sự phồn vinh của mình để xây dựng lại những nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, bao gồm cả những nước đã từng là kẻ thù của chúng tôi.

Khoảng một thập niên trước, ngài Chủ tịch, tôi và ngài đã gặp nhau ở San Clemente, California . Khi đó tôi là thống đốc bang California , còn ngài đang hoàn tất các cuộc thảo luận với tổng thống Nixon. Những cuộc gặp đó đã thu hút sự quan tâm của toàn thế giới. Chưa bao giờ hoà bình và thiện chí giữa con người với con người lại gần kề đến thế. Khi chúng ta gặp nhau, tôi đã hỏi là liệu ngài có biết rằng hy vọng và khát vọng của hàng triệu, hàng triệu người trên khắp thế giới đang phụ thuộc vào những quyết định đạt được tại các cuộc họp của các ngài hay không.

Ngài nắm tay tôi bằng cả hai tay và cam đoan rằng ngài biết điều đó và bằng cả trái tim và khối óc mình, ngài sẽ gắng sức để thực hiện những hy vọng và ước mơ đó.

Nhân dân trên thế giới vẫn còn hy vọng. Quả thật, các dân tộc trên thế giới, bất chấp những dị biệt về chủng tộc và nguồn gốc sắc tộc, có rất nhiều điểm chung. Họ muốn có quyền kiểm soát đối với số phận của cá nhân mình. Họ muốn theo đuổi nghề mà mình chọn và được trả công một cách công bằng. Họ muốn chăm lo cho gia đình trong hoà bình, không làm hại ai và cũng không bị ai làm tổn hại. Các chính phủ tồn tại là nhằm phục vụ lợi ích của họ chứ không phải ngược lại.

Ngài Chủ tịch, lẽ nào chúng ta lại không quan tâm đến việc phá bỏ những vật cản đã ngăn cản người dân của chúng ta đạt những mục tiêu đơn giản này?

Và lẽ nào một số vật cản này không phải sinh ra từ những mục đích của chính phủ vốn không liên quan đến những nhu cầu và mong muốn đích thực của người dân?...

Ký tên

Ronald Reagan

Sunday, April 04, 2010

ĐẠO HẠNH TỪ CHÂU


ĐẠO HẠNH TỪ CHÂU

Tùy bút của Anne Lê Nguyễn Thái Hà

Nhà thờ cổ ngay ngắn trên bờ mà nghiêng nghiêng dưới nước chuyển động chậm dần theo chiều buông lơi. Cồn đất hiền lành đầy chim cá ngàn năm xưa giờ thấp thoáng màu cờ vàng trắng. Đường đá nhỏ ngoằn nghèo tỏa sáng bởi những câu từ bất hủ, vượt qua sinh tử, dẫn Ta và Mi đến Linh Sơn từ một vùng sũng nước.

Ta và Mi.

Chiều Tiệc Ly hoang hoải.

Không gian man mác đầy tràn kỷ niệm. Ta bước nhẹ, run run sợ giẫm vào thời gian, sợ chạm phải không gian, sợ quá khứ không còn quyến luyến tương lai. Mi rình mò, mưu toan giết chết Ngôi Hai, phá sợi khói mỏng manh huyền nhiệm giữa Trời và Người, dùng lửa của cây bạch lạp lớn hung hãn đốt Tin mừng.

Ta và Mi song hành.

Cung Thánh sơn son thiếp vàng, rực rỡ như một ngàn sắc nắng, lộng lẫy một miền ấm cúng thâm sâu. Kiến trúc cổ đem cái rạng rỡ của nội dung, thách thức với thời gian gấp gấp và không gian nhỏ hẹp của mái vòm, bật lên nỗi đau thâm Tuần Thánh, vừa đủ tím để xướng lên niềm hy vọng. Giữa tâm là Ngã, lủng lẳng đó niềm đau và nỗi kính sợ của cả một nền văn minh đương đại.

Ta cố vùng lên. Mi theo Ta.

Ngã lần từng nếp gấp thời gian, trong hân hoan và mệt nhọc. Nơi đó không xa Ta, không xa Mi. Nó vì, cùng, với, của, trong và bởi Ngã. Ngã thấy, ngay tại đây và lúc này, sao tôn giáo lại hiện sinh đến thế, tiệm cận Huyền Cơ là một tiếng quẫy đạp của cá dưới ao, nụ cười của trẻ trong sân và lời kinh liên lỉ trên những nóc nhà. Ngã đòi buộc sự thiêng liêng của Ánh sáng, của Đường, Sự thật và là Sự sống, đơn giản như bông hoa đang nở, buồng chuối quả to đang chín, tượng thiên thần gãy ngón hay giọt nước mắt rơi khi Ngài giảng lễ.

Đạo hạnh Từ Châu !

Cha của ráng chiều yên bình đưa mình thánh, Ngài nói rằng vì Ngã muốn nên Một nên đã hiến sinh, dẫn đạo bằng hình, làm của ăn đàng cho hàng vạn sinh linh. Ta và Mi trong Ngã, đứng nhìn hoàng hôn, lắng nghe trong sâu xa âm vang của một chiều núi Sọ, miên man mê trong giờ phút sinh thì của hai ngàn năm trước. Ta và Mi trong Ngã, băng qua đại dương và núi cao truyền giáo, nghe rõ tiếng phập của máy chém trên bờ bãi sông Hồng hôm nao. Đám dân quê xác xơ chạy dọc hai bờ, khóc nức nở giữa một chiều loang lổ máu. Thủ cấp còn đây. Hang toại đạo nén chặt các linh hồn, lễ truyền chức thổi những mầm non mới nhú, lan mướt cả cỏ cây. Hồn cha xanh như gió thiên thần…

Thần khí bay là là………

Nắng nhạt dần phía xa. Giờ đã điểm cho đêm ngày giao hoan. Ta và Mi đối diện. Trước mắt là mặt hồ thẫm màu gợn sóng, vuông vức và sòng phẳng, cuồn cuộn phản chiếu trong lòng Ngã nhưng nhức tội lỗi, đay nghiến khởi đi từ sự sám hối tận căn. Sóng của thiên đường và hỏa ngục, của sa tăng và thánh thần, của thanh cao và trần tục, của dâm dục và Tam điểm, nhằng nhịt khóc lóc trong nhục thể hữu hạn Ngã ban.

Thần khí ấm cúng trườn lên……

Sau Ta và Mi, các Bà Đạo đức mệt mỏi tựa lưng vào cột đền thờ, sâu một niềm đau viên mãn, giãn nở cả một dàn bình ca. Niềm vui đạo hạnh trong đau thương tuần thánh, qua tháng ngày, xưa và nay, hiện lên trên từng đường gân thớ thịt. Dưới lớp tóc bạc trắng kia là gì mà khi mệt nhoài vì đau khổ, cả trong và ngoài, cả thể xác và tâm hồn, cảm được cả một miền ý chí trong tận hiến hy sinh. Tiếng Than ôi lê thê, âm hưởng sầu muộn của một làn điệu Ngắm Rằng xa xưa bên bàn thờ Vọng. Gia trưởng đập đầu xuống đất, thiếu nữ âu sầu như tiền đồ lệ thuộc, đấm ngực xót xa mà vẫn lấp lánh duyên tươi.

Thần khí rúc và hun đúc lửa lòng ……

Các em nhỏ hồn nhiên bước qua Ta và Mi. Ngã hiện lên trên những khuôn mặt, gấp gáp bơm vào chập chững những nụ cười trẻ thơ làm rạng rỡ cả màn đêm đang đến. Sáng cả vô minh. Thời gian trôi và Mi ắt ngộ. Bến Mê kia sẽ nhường cho bờ Giác. Mi chạy tuột ra khỏi Ta, vọt lên trời và chui xuống ao. Mi thả Ta ngồi bệt trên bậc tam cấp xét mình nhớ về đoàn rước nhiều kiều nữ tung đầy hoa trước mặt. Nhớ giây phút quỳ gối rửa những bàn chân Giao Chỉ nứt toác, phong sương. Mi bỏ Ta trở về với nền đất lạnh tựa Ngã nằm sấp trong lễ tấn phong. Mi ru Ta bằng nghi lễ và thiết tha đòi thế tục.

Thần khí phục sinh trong Thụ tạo….

Những dãy nhà cổ, những hàng cột và tượng thánh, áo cũ và sách lễ Latin… Bóng hình muôn năm đó Mi mang theo lao vào bao la. Mi tan vào trong nước để làm Thủy Hoàng Đế nhưng Ngã bảo “Khởi Thủy là Lời”. Mi hòa vào bầu trời cao và sang để làm dương gian nhưng Ngã bảo “Chúa Trời là Lời”. Ngã bảo: “Mi là Ngộ Không đái vào ngón cái của Như Lai”.

Chuỗi ngày cực khổ vừa qua và đang tới. Máu và nước mắt, ánh sáng và tối tăm, vinh quang và điếm nhục, vững chãi giữa mong manh, tất cả nhòe đi trong từng lát cắt của cuộc đời. Trong sự cô đơn của Ta và Mi giữa một biển người, nghe vang vang đâu đây tiếng Ngã gọi phục sinh. Sự sống lại của Ngã trong loài thụ tạo: Ta và Mi.

Từ Châu – Chiều thứ 5 Tuần Thánh 2010



Friday, March 12, 2010

Đảng cộng sản cần Canh Tân



Đến hẹn lại lên, những người cộng sản rục rịch chuẩn bị đại hội cho riêng mình trong 2 năm Canh Dần và Tân Mão. Ý chí của một nhóm người tiếp tục bao trùm lên toàn bộ dân tộc Việt Nam. Mỗi một câu chữ trong nghị quyết sẽ lại trở thành, thậm chí vượt trên, những điều luật thực định trong vòng 5 năm tới.

Nhưng đó là với những người vô cảm, còn đối với những ai suy tư đến tiền đồ dân tộc thì thực tiễn đang rối như tơ vò. Đảng đang bế tắc hoàn toàn về lý luận. Con tàu Việt Nam chới với giữa biển khơi đầy sóng cả. Đảng trở nên “lì” còn dân quẫy đạp trong nghèo túng trở nên rất dễ “liều”. Một Việt Nam phơi ra “sức khỏe” tài nguyên cạn kiệt và một lương tâm xã hội rách nát.

Lý tưởng cộng sản truyền thống đâu rồi ?

“Mừng thọ” 80 năm, nhiều người nói với tôi Đảng CS nay đã quá già.

Đúng vậy, không những già, Đảng đã chết. Học thuyết Mác Lê Nin xây dựng CNXH từ lâu không còn tồn tại trong thực tế. Những ý niệm mơ hồ về CNCS không còn sải cánh bướm rực rỡ trên khắp địa cầu, mê hoặc những ai lạc hậu dấn thân.

Nó đã chết ngay khi Các Mác đặt trên nền tảng công hữu và vô thần, trực tiếp tấn công vào hai bản thể quan trọng nhất của con người: Quyền tư hữu và Tôn Gíao. Hai thuộc tính quan trọng này ngay lập tức quay lại “gặm nhấm” dần lý tưởng chủ nghĩa CS cho đến khi nó tự sụp đổ.

Nó đã chết vì lực lượng lãnh đạo là giai cấp vô sản giờ không còn nữa. Các quan chức đảng viên đã trở thành những nhà tư bản lớn, quay lưng lại với đồng bào cùng khổ để tiếp tục bảo vệ thành quả kinh tế của mình bằng những tập đoàn khổng lồ, các công ty sân sau và qua các “nhóm lợi ích”.

Gía tiêu dùng cứ lạnh lùng tăng giữa đám quần chúng bần nông ngơ ngác. Nội lực kinh tế trở nên bọt bèo trong cơn bão hàng ngoại. Không ai đứng ra bảo vệ nhân dân một cách thực tâm.

Nó đã chết vì thành phần cơ bản của Chủ Nghĩa cộng sản là công nhân và nông dân đã bị gạt ra khỏi đời sống, bần cùng hóa đến tột độ. Lưng say nắng trên những thửa ruộng còm và chân tay tê dại trong những nhà máy tăng ca. Hàng ngàn công nhân mất việc, nông dân mất đất trở thành dân oan, dương biểu ngữ đi khắp phố phường để đòi công lý. Họ thấy cái CNXH mong ước ngày nào giờ trở nên vô hồn và trống hoác.

Chủ nghĩa cộng sản thực sự đang chết dần vì những toan tính lợi ích riêng tư của từng đảng viên khi phấn đấu vào đảng. Nhiều người bạn tôi thú nhận rằng họ đã “ăn gian” khi tuyên bố: ‘Suốt đời hy sinh cho lý tưởng Cộng sản” ngay trong buổi lễ kết nạp đảng viên.

Đảng Cộng sản phải canh tân

Năm Canh dần và Tân Mão là thời điểm để chúng ta sám hối và Canh Tân. Là đảng cầm quyền lãnh đạo dân tộc, Đảng CS phải đi đầu trong nhiệm vụ khó khăn nhưng tốt đẹp đó.

Với 3 triệu đảng viên, chỉ chiếm hơn 3% dân số, Đảng Cộng sản úp trùm cả dân tộc, không chỉ bằng ý thức hệ mà còn bằng cả một hệ thống cơ sở vật chất và nguồn ngân sách không kém gì Nhà nước. Trụ sở và bộ máy nhân sự của Đảng không nhỏ hơn của Nhà nước từ trung ương đến cấp xã. Cặp nhà nước “song trùng” nghênh ngang “đớp” ngân sách của tất cả chúng ta, công khai ghi rõ tại điều 46 Điều lệ Đảng.

Vậy, canh tân nghĩa là Đảng cần phải thu nhỏ lại và nhường không gian sống cho xã hội dân sự lớn dần lên. Một cơ chế dân chủ phải được thiết lập nơi một Nhà nước nhỏ gọn phải ra đời bằng bầu cử tự do và phổ thông đầu phiếu.

Những đảng viên Cộng sản hiện nay đang tự vo tròn lại. Họ không còn dám xả thân vì nghiệp lớn. Nhiều đảng viên nay né tránh, lười biếng và phủ nhận chính mình. Phần đông quan chức “ngậm miệng ăn tiền” và thủ dâm tư tưởng.

Đảng CS không còn đổ mồ hôi sát cánh cùng nhân dân lao động. Đảng viên không còn vò áo cho nhăn đi, sà xuống bên bếp lửa, chia nhau cùng đồng bào điếu thuốc, thao thức về tiền đồ dân tộc ngày mai. Những bản làng trên cao nguyên xa xôi, những ngọn đồi hẻo lánh thưa dần bước chân của những người CS nhưng dày đặc dấu giày của ngoại bang qua dự án Bauxite và Trồng rừng.

Lý thuyết cộng sản mất đi tính quyến rũ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng.

Tất cả điều đó đã làm cho Đảng Cộng sản trên toàn thế giới chết. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành nhưng đạo đức xã hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vũ khí, cảnh sát và hơi cay như tan đi khi lời kinh Hòa bình được cất lên. Sáu tàu ngầm hạng Kí Lô, tám máy bay Sukhoi chỉ là cá cơm và muỗi mắt giữa biển cả và bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân nơm nớp lo sợ, sống không bình an.

Bởi vậy, đảng phải tự ý thức đổi mới là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất. Đảng phải thẳng thắn sám hối và canh tân từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chắp vá một cách thiếu cơ sở.

Người cộng sản và món nợ dân chủ

Dù bị ràng buộc bởi quyền lợi và danh vọng nhưng ước muốn vươn lên để tốt hơn, dân chủ hơn, lương thiện hơn là đòi hỏi mãi mãi trong tâm hồn của mỗi một chúng ta, cả những người cộng sản lẫn những người chống cộng.

Và khát vọng đầu tiên để trưởng thành phải là một thể chế dân chủ. Đa nguyên sẽ mang lại cho ta một đời sống rạng ngời và huyên náo, là cơ sở để thiết lập xã hội văn minh.

Nhưng sẽ hỗn hoạn nếu như không xây dựng một Nhà nước pháp quyền.

Vậy, Hiến pháp mới phải mở rộng tối đa nhân quyền và phải được cụ thể hóa chi tiết trong các điều luật. Tên đảng phải thay và tên nước phải đổi. Các điều luật lập lờ, nước đôi, tối nghĩa phải triệt để loại bỏ. Luật hội, Luật biểu tình, Luật trưng cầu dân ý vốn đã bị “quy hoạch treo” tại điều 69 của Hiến Pháp gần 20 năm nay, phải được nhanh chóng ra đời.

Đây là cơ hội cuối để thể hiện. Những lãnh đạo cộng sản thương dân phải có trách nhiệm nói. Vì đang giữ trong tay toàn bộ báo chí nên phải thực hiện sứ mệnh của ngôn ngữ, đặt tổ quốc lên trên hết, kết hợp chiến hữu cấp tiến quanh mình nô nức tìm một hướng đi cho dân tộc. Đảng đừng nhỏ nhen, rình mò và dập tắt những tiếng nói khác mình vốn chẳng làm gì nên tội.

Tôi đã đi nhiều nơi và tôi đã thấy. Vì đã thấy nên tôi tin. Tôi tin rằng chúng ta đang có lỗi. Có lỗi với những người dân oan đang mất đất, những công nhân ngộ độc trong nhà máy; có lỗi với tổ tiên khi lãnh thổ bị mất, tài nguyên bị bán; có lỗi khi đạo đức suy đồi, trẻ em bỏ học, thư viện vắng người và chiều cao dân tộc thua kém…. Chúng ta có lỗi vì đã để lại cho con cháu một di sản đầm đìa trong nợ nần và tan hoang về môi trường sống.

Đảng đang mắc nợ vì đã ngoắc cả CNCS và vốn vay ODA lên cổ dân. Nếu sòng phẳng với lương tâm, Đảng phải tự vấn mình và không được xù nợ ! Đảng phải gánh trách nhiệm đó để canh tân chính mình, làm việc một cách rộng lượng và vô tư với mọi thành phần thuộc mọi tổ chức của thế hệ hiện tại để trả nợ và xây dựng đất nước cho thế hệ tương lai.

Có như vậy mới xứng đáng là quân tử và Đại hội đảng XI mới được gọi là thành công.


Thursday, March 11, 2010

X-Cafe VN - Đừng sợ


Giai đoạn từ ngày 19/1/2010 cho đến hiện tại một trong những giai đoạn khó khăn nhất mà diễn đàn X-Cafe đã trải qua kể từ ngày thành lập đến nay. Diễn đàn đã bị tin tặc tấn công bằng DDoS nặng từ ngày 19/1/2010, trùng vào thời điểm chính quyền trong nước xét xử và tuyên án các nhà dân chủ ở Việt Nam. Điều này cho thấy đây là một hành động có hệ thống và có chỉ đạo hẳn hoi vì nó được kết hợp với sự việc các ISP ở Việt Nam đồng loạt dở bỏ firewall để tin tặc có thể dùng nhiều máy trong nước tấn công vào máy chủ của diễn đàn. Đây là một tấn công kéo dài liên tục trong nhiều ngày với một hệ thống botnet hỗ trợ với gần 40 nghìn máy tham gia. Vào thời điểm bị tấn công mạnh nhất, toàn bộ đường truyền của máy chủ hoàn toàn bị bão hoà.

Sau khi các hành động DDoS thất bại, tin tặc lại tiến hành thêm một bước tấn công khác. Ngày Chủ nhật 28/2/2010, tin tặc giả dạng làm thành viên diễn đàn và đăng link có virus gài bẫy một thành viên của Ban Quản trị và đã lấy được thông tin đăng nhập vào phần quản trị của diễn đàn (Admin Control Panel). Sau nhiều giờ thâm nhập, tin tặc đã tải được hồ sơ của hơn 19 nghìn thành viên trong đó có hơn 7 nghìn thành viên đang sinh sống tại Việt Nam. Sau đấy tin tặc lại dùng những dữ liệu ăn cắp được để gửi email thông báo diễn đàn sẽ đóng cửa hoặc doạ dẫm các thành viên trong nước. Và tồi tệ hơn, tin tặc đã đăng toàn bộ thông tin của thành viên của diễn đàn tại một website khác nhằm gây hoang mang, sợ hãi cho các thành viên ở trong nước.


X-cafe VN bị hack - Các thành viên đừng sợ



Diễn đàn mạng hay nhất, hấp dẫn nhất về chính trị là X-cafevn đã bị tấn công. Đây là một cuộc tấn công lật đổ kinh hoàng và gây sốc nhất trên mạng. Toàn bộ danh sách các thành viên kể cả hình ảnh ngày sinh và các thông số liên quan của hàng chục ngàn người đã bị "tin tặc" lật tung. "Tin tặc" sẽ lần lượt công bố danh tính và quan hệ của các thành viên trong mục "mỗi ngày một nhân vật".

Trước mắt các thành viên hãy bình tĩnh và chấp nhận sự công khai. Đừng sợ ! Những việc làm của các thành viên đều không vi phạm pháp luật Việt Nam. Chiến thuật công bố lần lượt sẽ gây sức ép tâm lý và sự căng thẳng tối đa lên các thành viên. Điều đó có thể làm nhiều bạn hoảng sợ và bị khuất phục. Đừng sợ ! Nếu cần chính chúng ta sẽ công khai hóa toàn bộ các hoạt động của từng thành viên của mình.

Hiện nay chính "tin tặc" đã mở một trang web giới thiệu về các bước đánh sập và công bố nhân vật và hình ảnh tại đâyhttp://x-cafevn-db.info/.Các thành viên có thể vào đó để đọc để tham khảo nhưng nếu không giỏi về IT xin đừng đi vào sâu vào quá vì có thể có mã độc cài đặt sẵn. Đây là cách thức chiêu dụ page view rất hấp dẫn của tin tặc.

Tình hình hiện tại rất khẩn cấp nhưng các thành viên không được mất bình tĩnh, phải hết sức tự tin vào lòng yêu nước, tính cao đẹp và trong sáng của các thành viên đã tham gia xây dựng diễn đàn. ! Đừng sợ !

Là một độc giả yêu thích của diễn đàn và là một luật sư, tôi sẵn sàng và lấy làm vinh dự nếu được tư vấn, hỗ trợ hoặc bào chữa cho các thành viên của diễn đàn bị sách nhiễu hoặc bị câu lưu vì đã bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa theo đúng tinh thần của diễn đàn. Nếu ai có nhu cầu xin liên hệ Luật sư. Lê Quốc Quân - Công ty TNHH Gỉai pháp Việt Nam, số 2 Lô 11A Đường Trung Yên 3- Trung Hòa - Cầu Giay - Hà Nội.


Sunday, September 27, 2009

AI PHẢI TRẢ LỜI


Bài Viết sau đây được đăng lại từ trang bauxitevietnam.info, Là của Nguyên Phó Tổng Biên tập phụ trách báo Du Lịch, người bị đình chỉ chức vụ và bị thu hồi thẻ nhà báo vì trong số báo Du lịch xuân 2009 đã đề cập đến lòng yêu nước, đến Trường sa, Hoàng sa của Việt Nam và cuộc biểu tình trước đại sứ quán Trung Quốc cuối năm 2008

Ai phải trả lời

Nguyễn Trung Dân

Tôi đã thử đặt trên bàn hai thứ: Một là các trang báo DU LỊCH số Xuân 2009 đã đăng các bài viết mà vì nó, báo bị đình bản 3 tháng – và cho đến tận hôm nay – toàn bộ nhân viên bị nghỉ việc không có lương ăn. Tôi thì bị đình chỉ chức vụ và thu hồi thẻ nhà báo. Và thứ khác và “lạ”, là bài báo trên trang Báo Điện tử của Đảng CSVN do ông Đào Duy Quát làm Tổng Biên tập, Trung ương Đảng là cơ quan chủ quản, đã dịch ra và đăng tải thông tin khoe sức mạnh của quân lực… “Tàu mình” đang tập trận nơi Biển Đông có Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, ca ngợi sự biểu dương lực lượng của nước “Tàu mình” như chốn không người nhằm xác lập vai trò của kẻ xâm lược. So sánh để thử hiểu được điều gì đang xảy ra trên đất nước tôi và đau đớn phải hiểu ra là “không thể hiểu được”.

Vì làm sao có thể hiểu nổi cùng là người Việt Nam “da vàng, mũi tẹt” mà ngôn ngữ “xa lạ” nhau đến vậy, cách đối xử với đồng đội, đồng chí mình sao mà ghê rợn như kẻ thù. Đình bản 3 tháng (từ 14/4/09 cho đên tận hôm nay – 26/9/09 là 5 tháng 12 ngày) là từng ấy ngày không lương ăn, không việc làm và kinh khủng hơn là không ai thèm biết đến sự tồn tại của hơn 50 con người đang vất vưởng, tội nghiệp chờ kiếm cho ra một người phụ trách mới. Mà là tội gì? Có chăng là tội muốn nói lên cho mọi người biết rằng Việt Nam vẫn có – và có nhiều – những thanh niên sẵn sàng xuống đường (và sẵn sàng chết) cho Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam (xem bài Tản mạn cho đảo xa của Trung Bảo). Và cho dù đã “lỡ lầm” mất Ải Nam Quan thì cũng cần ghi dấu “Hận Nam quan” cho con cháu mai sau biết được rằng: Nước Việt Nam ta hình cong chữ S, liền một dải từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau (xem Hận Nam quan của Hoàng Cầm). Vậy thì đâu là điều đúng, sai để làm ra một quyết định kỷ luật như sau:

Quyết định đình bản báo Du lịch căn cứ vào “những sai phạm nghiêm trọng của Báo Du lịch số Tết Kỷ Sửu 2009.” Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, “lãnh đạo Báo Du lịch đã không chấp hành sự chỉ đạo đối với các thông tin quan trọng, phức tạp, nhạy cảm, cho đăng những thông tin trên số báo Tết Kỷ Sửu 2009 vi phạm nghiêm trọng các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 6 và khoản 2 Điều 10 Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí.”

Có một điều, dù đã có một vài người biết, nay tôi cũng muốn được nói ra là tác giả Trung Bảo viết “Tản mạn cho đảo xa” là con trai đầu của tôi – đứa con mà khi nó vào đại học tôi đã căn dặn không được học và làm nghề báo. Bởi hơn 20 năm làm báo, tôi đã phải chứng kiến và trải qua bao điều dâu bể để mong con chọn sự bình an trong cuộc đời. Vậy mà như một định mệnh, cháu vẫn theo học khoa báo chí, ra trường làm việc ở báo Thanh Niên, và được xem là một thanh niên có ý thức đối với đất nước và có khả năng làm báo.

Khi cầm bàì báo Trung Bảo viết cho số Xuân Du lịch, tôi đã đắn đo rất lâu. Trong tình hình lúc ấy, với sự nhạy cảm cần thiết, tôi hiểu được điều gì có thể xảy ra khi các bài báo này được in ra. Thế nhưng, tất cả những điều có thể xảy ra ấy có khiến tôi chùn tay không dám ký duyệt cho đăng bài viết này, mà khi đọc tôi thật sự xúc động tận tâm can? Tôi thương cho bầu nhiệt huyết của lớp lớp tuổi trẻ sẵn sàng xả thân mình, xuống đường biểu tình và có lẽ không ngần ngại hy sinh thân mình khi tấc đất quê hương đang bị xâm chiếm. Rồi tôi sợ. Tôi sợ phải đối diện với ánh mắt con tôi, sợ phải nghe câu hỏi là bao nhiêu sự tích anh hùng của cha ông, sao bây giờ lại thế này? Và điều quan trọng này nữa: Có phải khi đã yên vị ngôi cao, được phong thánh bằng niềm kiêu hãnh đem lại độc lập dân tộc thì đất nước, lòng yêu nước đã trở thành của riêng một nhóm người độc quyền bắt người khác phải nghe, phải theo mình, mà mình thì không thấy điều gì quan trọng hơn cái ghế của mình. Ghế Phó Tổng Biên tập phụ trách của tôi có đủ sức chịu đựng những câu hỏi ấy không? Và tôi, tôi đang ở đâu, ở nhóm nào khi đất nước đang có nguy cơ bị xâm lăng như vậy?

Không phải chỉ tôi trả lời và không phải chỉ một mình con tôi hỏi. Cả dân tộc đang hỏi, và ai phải trả lời đây?

Chọn đăng những bài báo ấy tôi còn có tính toán làm phép thử. Bởi tôi vẫn tin rằng đâu đó thẳm sâu trong lòng mọi người dân Việt tấm lòng yêu nước nồng nàn đã đưa đất nước vượt qua bao họa xâm lăng. sẽ khiến cho người có trách nhiệm biết cách lèo lái, sẽ phải “đưa cao đánh khẽ” để báo chí, công dân có cách thể hiện tấm lòng, sự quật cường, không chịu khiếp nhược vớí bất cứ kẻ xâm lược nào, khi mà vì lý do nào đó nhà nước đang còn vận động “ngoại giao”, và ngay cả khi cho là báo Du kịch có “sai” (nhưng sai rất chân thành). Tôi đã nhầm. Họ đã cư xử như “NGƯỜI LẠ”.

Tôi đã cố gắng giữ sự yên lặng. Không than phiền việc mất chức, ngồi không (cái chức mà tôi vẫn tự trào là chưa kịp khoe với bạn bè đã mất). Không viết lách gì và cũng không muốn phát biểu với ai để trần tình phải trái, dù rằng ai cũng đồng tình là tôi bị tai nạn, nhưng đều thấy tôi như người “chết rồi” từ khi có quyết định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Vì tôi vẫn hy vọng, có thể ở “tầm của tôi” khó hiểu được cách làm, những ứng xử của “tầng vĩ mô”. Giờ đây tôi buộc phải thất vọng. Cách thể hiện trên trang Báo Điện tử của Đảng (có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện ĐẤT NƯỚC) và cách KỶ LUẬT BẰNG TIỀN sự sai phạm, đối nghịch hẳn với sai phạm của báo Du lịch, của những người đang nắm vận mệnh quốc gia như đã làm, thì thật sự không hiểu nổi điều gì đang xảy ra với dân tộc chúng ta.

Nói không hiểu tức là đang hiểu vậy.

N.T.D. (tháng 9/2009)

Nguồn http://bauxitevietnam.info/c/11250.html


Sunday, September 20, 2009

ĐỒNG VỌNG Ô SIN - PHẦN III


ĐỒNG VỌNG Ô SIN - PHẦN KẾT

“Xét đồ!”

Tôi giật mình khi vợ tuyên bố rõ to. Ngạc nhiên trước một quyết định táo bạo bất thường của vợ, tôi can. Vợ bảo nhờ tiếng chuông điện thoại reo mà em biết được. Chị này đã mua sim, hẹn một đồng hương ra về. Tôi lặng người. Giờ đây, trước mặt là nhân chứng và vật chứng. Chiếc điện thoại hơn 3 triệu là gấp 6 lần mức thấp nhất để phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật. Sự van xin và nhận tội hiển nhiên tố cáo hành vi.

“Xét người!”

Vợ tôi nói gần như hét. Đối với tôi đây là việc làm cả thể, ngoài mọi dự kiến, vượt trên luật pháp, xúc phạm danh dự, nhân phẩm một con người. Tôi chưa biết nói gì.

- Em nhiều lần mất tiền rồi mà không dám nói với anh. Bây giờ phải xét!

Tôi lặng im, hai chị hàng xóm chạy sang hùa vào nhao nhao “phải khám, phải khám người…”. Nghề luật sư, tôi biết rằng chỉ làm điều đó khi có dấu hiệu phạm tội rõ ràng và có lệnh của công quyền. Chị Tình như quỳ xuống van xin chúng tôi, vợ tôi phải dọa gọi công an hai lần nữa chị mới chịu rút trong túi ra hai triệu đồng, mặt tái xám, đảo mắt nhìn tôi như sắp khóc:

- Tôi xin cô chú tha cho, đây là tiền rơi, tôi nhặt được khi giặt quần áo.

Con tôi khóc ré. Mới ở hai tháng mà cháu đã quen hơi người giúp việc. Nó linh tính thấy điều gì đó không lành cho bà và nó sợ. Nó tiếp tục khóc. Ngay lập tức tôi quyết định để chị đi khỏi nhà mình. Tôi bảo vợ tính trả tiền lương đầy đủ, thêm 500 ngàn đồng mua quà. Tôi yêu cầu rời khỏi nhà trước mười giờ tối, là lúc theo luật chưa vào đêm. Khi xưa ông nội tôi cố gắng mời bà Nghĩa ở lại, nay tôi đành phải đuổi chị Tình ra đi. Khi xưa là sự biết ơn, nay ô sin quên cả lời xin lỗi chỉ đủ thở phào như vừa thoát vạ. Tôi nhìn theo thấy bên kia đường một người đàn ông đang đón.

Tôi bế con vào phòng riêng, đóng cửa lại và ru Kiều. Tự nhiên nước mắt tôi ứa ra. Con tôi, dù còn bé, đã không có một vú em, một người giúp việc, để cùng sống và trở nên thân thiết. Nhật ký của nó sẽ không có những dòng về người giúp việc đầy yêu thương và đáng kính, chăm lo từ lúc ấu thơ. Ký ức về bà Nghĩa mà ông nội tôi kể khi xưa, chợt hiện về.

Sáng hôm sau, tôi bắt xe về quê tìm nhà bà Nghĩa. Trưởng thôn tưởng tôi về tìm người đi lao động nước ngoài, tiếp tôi một cách niềm nở. Ông nói rằng bà cố Nghĩa đã mất từ lâu, giờ có mấy đứa cháu vẫn là bần nông.

- Nếu anh tạo được một suất thì cưa đôi - Gã đề nghị.

- Tôi tìm người giúp việc cho mình, đâu phải cò vạc mà cưa với kéo - Tôi giải thích.

- Giúp việc ở trong nước thì quê lắm, dân sợ mang tiếng là đi ở – Lão chê bai.

- Mong anh cứ chỉ cho tôi đến nhà cụ cố Nghĩa - Tôi cố gắng nài nỉ thêm.

Sau một hồi vòng vo, trưởng thôn cũng dẫn tôi đến một ngôi nhà xiêu vẹo cuối làng. Đó là nhà người cháu của bà Nghĩa. Người chồng ngồi ôm con trước cửa, cạnh một chiếc chum sành gắn máng hứng nước mưa. Lẫn lộn dưới rãnh nước bẩn là vỏ những gói nhỏ dầu gội đầu Sunsilk loại năm trăm đồng một gói.

Đứa bé con anh hai tuổi gầy đét, mặt mũi lem luốc. Tôi bước vào nhà, ngồi lên một trong hai chiếc giường trống rỗng. Tôi cẩn thận đặt gói bánh trên giường và hỏi chuyện. Một cô bé khác mặt buồn rười rượi tựa cửa ngó vào. Mắt nó đau đáu nhìn gói quà rồi chậm rãi nhìn tôi. Anh chồng nói vợ đi rồi, vay ngân hàng hết 12 triệu, đến nay đã đi được 4 tháng, mới điện về 2 lần, chưa gửi đồng nào cả”.

- Buồn lắm, vợ đi giúp việc nhà cho người khác, nhà mình không ai trông con - Anh nói chậm rãi, đôi mắt u sầu. Tường nhà loang lổ vì thấm nước mưa, mạng nhện giăng ngang một bức ảnh cưới.

- Đi vậy mỗi tháng được bao nhiêu? - tôi hỏi

- Gốc được 10 triệu, trừ thuế còn 6 - Anh đáp.

- Làng có nhiều người đi không? - tôi hỏi tiếp.

- Con gái làng này đi nhiều lắm. Nhiều đứa vừa cưới chồng xong cũng đi. Thà thế còn đỡ, tôi giờ không ai trông hai đứa trẻ - Anh phàn nàn.

- Nhiều cặp vợ chồng đi về không sống được với nhau, chửi nhau tôi phải giải quyết suốt Ông trưởng thôn xen ngang - mấy thằng xã bên nói các bà đi làm ô sin là bị chơi hết.

- Mình làm sao biết được, có cũng đành chịu thôi, phải kiếm tiền nuôi con - Anh chồng thở dài giọng đầy cam chịu - Bực là mấy tháng rồi không thấy đồng nào gửi về.

Tôi không kiếm được người giúp việc cùng quê. Họ đi tây làm ô sin hết rồi. Sau khi nhờ cậy vào nhiều trung tâm giới thiệu, cuối cùng vợ tôi cũng kiếm được. Thực ra đó là một lao động trẻ em, cháu chỉ mới mười hai tuổi. Tôi không muốn thuê vì sợ phạm luật, nhưng “nhận cháu là giải thoát cho cháu, chủ nhà cũ đánh cháu và giam cháu suốt”, người môi giới nói như van lơn. Một ngày chủ nhật, chúng tôi đưa cháu về thăm nhà, thỏa thuận cụ thể với bố mẹ cháu. Cả gia đình cám ơn, xong cháu theo xe về ở với nhà tôi.

Hai tháng sau, một buổi sáng, khi tôi đến văn phòng. Người cháu rể bà Nghĩa ngồi trước văn phòng tôi rũ rượi như một tàu lá héo. Vợ anh đã chết. Xác được đưa từ Ảrập về quê. Chị bị tai nạn khi trèo ra lau kính ngoài phía cửa sổ trượt chân rơi xuống từ tầng mười hai. Các bên môi giới đùn đẩy nhau không ai chịu trách nhiệm bồi thường. Tiền lương bốn tháng của chị bị một đồng nghiệp cùng quê lừa lấy và bỏ trốn, nay không liên lạc được. Nợ ngân hàng tăng lên trong khi môi giới Việt Nam nói rằng, khoản tiền đưa xác từ bên kia về chỉ là cho mượn.

Trông anh hoảng loạn đến tột độ. Anh lại nói rằng cắn răng cắn cỏ lạy tôi nếu tôi không giúp được thì cả gia đình anh sẽ cùng nhau tự tử mà chết. Anh đưa tôi tập hồ sơ bằng tiếng Anh và tiếng Ảrập của tòa án gửi về. Như một chút tri ân, tôi dẹp bỏ các hồ sơ và hợp đồng đang làm dở, bắt đầu viết bức giác thư pháp lý gửi đến Đại sứ quán Việt Nam tại thủ đô Riyadh, đồng kính gửi Tòa án Quận, nhờ họ thụ lý để tìm hiểu về cái chết của người cháu của Bà, để tôi có thể tập trung vào tài liệu bảo hiểm giúp gia đình anh.

Khuya, tôi ra hành lang hít thở và nghĩ mung lung không định hướng. Nhiều căn hộ đang sáng đèn. Tôi nghĩ về bà Nghĩa, chị Cần, những người nghèo khó nhưng trong sạch. Tôi nghe phía bên kia đại dương những thân phận ô sin, bỏ con mình đẻ ra, bỏ bố mẹ đẻ ra mình, để đi chăm sóc con trẻ, rửa ráy người già nơi quê người đất khách. Tôi nghĩ đến cháu gái cụ cố Nghĩa và cái chết của cô ấy. Ai? Lỗi của ai? Niềm tin về một ngày mai đâu rồi? Những câu hỏi xoắn lấy tôi, tha thiết đòi được trả lời. Làm luật sư tranh tụng quốc tế đã nhiều, nhưng chưa bao giờ tôi thao thức về một vụ án nhiều như lúc này. Có thể tôi sẽ giúp được nguyên đơn thắng kiện, chồng con nạn nhân được bồi thường, nhưng ai sẽ giúp lấy lại mạng sống cháu gái cố Nghĩa? Rồi còn cả chị Tình, chín cô ô sin chị bạn, và cả đứa trẻ thất học đang ở trong nhà tôi nữa. Trong cái đói về vật chất, họ hoang mang nhặt nhạnh từng đồng tiền thấm đẫm mồ hôi, họ lo miếng cơm đến ngắn cả đời người. Trong cái đói tinh thần, họ nhắm mắt hủy hoại nhân cách, giết chết lòng tự trọng, xét đồ khám người, quỳ lạy cầu xin, thở phào thoát tội… Nước mắt có thể rơi, nhưng vì ai, vì lẽ gì đây. Đó là điều chúng ta phải nghĩ.

Bốn phía đường, phố phường mệt mỏi chìm sâu vào đêm !

Friday, September 18, 2009

ĐỒNG VỌNG ÔSIN - PHẦN II


ĐỒNG VỌNG Ô SIN (PHẦN II)

Đúng năm mươi năm sau. Mùa thu năm 2004.

Tôi - Đứa cháu nội của vị công an viên, em trai ông Tri huyện ngày xưa - là một Luật sư Tây học giờ ở Hà Nội, nhận được điện thoại gọi về quê. Đại gia đình họp lại chia vàng. Vào một đêm tối trời trước khi chết không lâu, ông Nội tôi đã dẫn các bác trong họ đi vào nghĩa địa, đến ngôi mộ bà cố Nội đào lên một lọ sành đựng vàng mà ông chôn nửa thế kỷ trước.

Trên đường về quê lần ấy, tôi nghĩ đến chị Cần, là người giúp việc gia đình tôi. Mẹ thường bảo: Hồi nhỏ mày khó tính, chị Cần khổ lắm vì mày”. Quả thực thuở nhỏ tôi ươn người, hay khóc. Chị Cần bồng bế tôi suốt 4 năm. Nhớ chị nhưng giờ chị Cần chỉ còn là ký ức. Khi tôi bắt đầu vào lớp Một thì chị đã về quê ở vùng ven biển lấy chồng. Đã có lần khi còn là sinh viên, tôi tìm về quê chị. Nhưng dân làng cho biết là chị đã theo chồng vào Ninh Thuận làm ăn. Chị sống đời chài lưới cơ cực ven sông, nay đây mai đó.

Năm sau, khi vợ chồng tôi có đứa bé đầu lòng. Chúng tôi thuê người giúp việc tên Tình. Ngày chị ra ở với gia đình, tôi háo hức ghi vào nhật ký của bé rằng, từ hôm nay con có một người giúp việc, bà sẽ bế con, tắm, cho ăn, và hát ru cho con ngủ thay bố mẹ nhiều đêm.

Hai tháng trôi qua. Một hôm, khi đang ăn tối cùng khách hàng, tôi bị vợ gọi về gấp. Không khí gia đình như có chiến tranh. Chị Tình đòi thanh toán tiền hai tháng làm việc và ra về.

- Khổ thân tôi quá, tôi không chịu được nữa, cô giết tôi đi.

Chị ô sin hét lên và làm bộ lau nước mắt. Vợ tôi ngồi lặng im, chiếc điện thoại Nokia mất ba hôm nay giờ nằm trên bàn như một chứng cớ xác đáng.

- Tôi xin cô chú, cô chú cứ giết tôi đi chứ đừng gọi anh Dũng.

Dũng là bạn tôi, làm công an ở quận Hoàng Mai. Chị ô sin xoãi chân ra, như vừa quỳ vừa ngồi, vò tóc và gọi tên con, tên cháu ở quê rầm rĩ. Rồi chị lạy gia đình tôi, những người chỉ xứng đáng tuổi em út của chị. Trông chị như bị loạn trí.

- Tha cho tôi, tôi bị điên rồi, cô chú cứ coi như tôi là thần kinh, cứ giết tôi đi.

Tôi lặng người, sự trống rỗng tràn ngập tâm hồn. Trước mắt tôi là tình trạng của một người mẹ, người chị, người bà của các cháu. Chị ấy đang hủy hoại chính nhân phẩm của mình. Tôi đã gặp ánh mắt thất thần, lén lút này mấy hôm trước khi thấy tôi thờ ơ thả hai chiếc điện thoại trên bàn sau một ngày làm việc mệt mỏi. Chị muốn lấy chiếc điện thoại cho đứa con gái vừa học hết 12. Chị không biết rằng, chỉ mấy ngày trước, vợ đã bảo riêng với tôi:

- Nếu con chị Tình thi trượt đại học, anh cố gắng đưa nó ra văn phòng, cho nó tập đánh máy rồi học thêm, sau này nó đỡ khổ.

Hai ngày sau tôi mất điện thoại, chị xin về quê. Vợ tôi buồn. Một nỗi buồn xa xót gợn lên trong đôi mắt và cả khi trở mình. Vợ gọi điện cho bạn tâm sự về ô sin.

- Mụ đó lấy, đuổi đi - chị bạn như rống lên.

- Sợ oan cho người ta - Vợ tôi vớt vát.

- Sợ oan thì phải xét - Cô phán dứt khoát. Rồi liền bồi tiếp:

- Tôi đã thay 9 đứa ô sin, tôi biết!

- Sao? - Vợ tôi hỏi lại.

“Đây!” cô bạn bắt đầu nổ một tràng, tất cả như chực sẵn chỉ việc phun ra:

- Đứa 15 tuổi, quê ở Thái Bình, đêm rình ngoài cửa phòng riêng vợ chồng.

- Đứa 18 tuổi, Thanh Hóa quê choa, trí tuệ mù lòa, làm chậm nói thô, giọng quê khê đét.

- Đứa 20 tuổi, người ở Hưng Yên, ăn vụng liên thiên, nói một cãi mười, lười như con hủi.

- Đứa 22 tuổi, là gái Tuyên Quang, hôn thằng thợ xây, suýt nữa có bầu, trước mặt con bé;

- Đứa 25 tuổi, Quê ở Hải Phòng, khêu gợi trước chồng, giả vờ đá chân, rồi còn tì ngực.

- Chị 37 tuổi, đồng hương quê mình, đồng bóng vô cùng, lấy quần áo tớ, mặc thử suốt ngày, mở đài nhảy nhót: “Yêu anh thật lâu, yêu anh đậm sâu…”

- Chị 40 tuổi, Bắc Ninh quan họ, túm tụm ôsin, trong cùng khu phố, nói xấu gia đình và con cái tớ;

- Cô 50 tuổi, Quê ở Ninh Bình, trộm quần áo bé, giấu trong thùng rác, sau đem về quê;

- Cô 58 tuổi, người gốc Nghệ An, khóc lóc trong đêm, rồi hô thật to, “Độc lập tự do, chém cha tư bản ! tau về làm chó, còn hơn đi ở với lũ bọn mày”.