Friday, May 15, 2009

GĂP GỠ ĐOÀN ỦY BAN TỰ DO TÔN GIÁO HOA KỲ

Ảnh chụp chung với Đoàn 

GẶP GỠ USCIRF

Đời người ta có được “chín tháng mười ngày” hoài thai. Tôi có “ba tháng mười ngày” trong tù mà tôi thường nói vui là ở “quê ngoại”. 100 ngày để trả nợ cho “tư tưởng dân chủ có từ năm 20 tuổi” như nhận xét của  an ninh thì cũng quả là ngắn.

Theo An ninh thì những điều tôi “Học tập ở NED liên quan mật thiết với bảy tổ chức đảng phái chỉ là cái ngọn” còn cái gốc là “theo đạo”. Một trong những cơ quan mà tôi bị coi là có quan hệ mật thiết chính là - Ủy  ban tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ.

Uỷ Ban tự do tôn giáo của Hoa Kỳ là một cơ quan độc lập, lưỡng Đảng, thành lập vào năm 1998 theo Đạo luật IRFA (Luật công 105-292 ) để giám sát tình hình tự do tôn giáo ở  hải ngoại.  Hồi còn học ở NED, tôi đã một số lần đến thăm Ủy ban, và còn đóng vai trò là phiên dịch cho Đoàn trong một vài cuộc gặp với người Việt.

Để tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo, Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ có các đoàn đi thăm và đánh giá về tình hình tự do của các nước mà họ cho là có vi phạm về tự do tôn giáo.

Khi tôi rời “quê ngoại” khoảng 100 ngày thì Đoàn tự do tôn giáo của Hoa Kỳ đến thăm tôi và đó cũng là lần đầu tiên Đoàn được phép đến thị sát về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Đó là vào  tháng 10 năm 2007. Lần đó Đoàn đã đến thăm tôi tại văn phòng riêng trong khi hàng chục công an với sự hộ tống của cả xe cảnh sát dàn cảnh thị uy bên ngoài. Tôi cảm giác người ta xù lên vì nghĩ rằng có gì đó thật nguy hiểm.

Trong đoàn có người bạn là Scott Flipse – có tình cảm đặc biệt với Người Việt Nam, Ông đã làm đề tài Tiến sỹ về “Di tản nội địa ở Việt Nam sau hiệp đinh Geneva năm 1954” .

Ngay khi xuống xe ông đã ôm tôi thật chặt ngay phía ngoài văn phòng. Tôi ghé sát tai mà nói rằng “họ đang quan sát chúng ta đó”, cậu ấy bảo: “càng tốt Việt Nam và Mỹ là bạn mà”.

Lần đó cuộc gặp diễn ra trong vòng một giờ với những tình cảm thực sự chân thành. Họ quan tâm đến thời gian tôi ở trong tù, đời sống gia đình và những khó khăn tôi gặp phải và hỏi liệu có thể giúp đỡ gì được cho tôi không.

Lần này là lần thứ 2 tôi có buổi gặp gỡ với phái Đoàn về cuộc hẹn ở khách sạn Metropole – Khách sạn lâu đời nhất ở Hà Nội được xây dựng từ năm 1901. Hôm nay trời mưa, tôi đi taxi và có vẻ chỉ có 1 chiếc xe máy nhẹ nhàng đi theo với hai người giữ một khoảng cách khá xa.

Lần này Đoàn đã đến vào Việt Nam 11 và sẽ rời VN vào ngày 22 tháng 5. Đoàn do Phó Chủ tịch là Ông Michael Cromartie – người được Tổng thống Bush bổ nhiệm - làm trưởng đoàn.

Đoàn đã gặp gỡ nhiều giới khác nhau, trong đó có Bộ Trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Ban Tôn giáo của Chính Phủ trong đó Chính phủ “vẫn đọc bài diễn văn lần trước”.

Đoàn cũng đã thăm gặp Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn, Bác Sỹ Phạm Hồng Sơn.

Đêm qua Đoàn cũng đã đến thăm giáo xứ Thái Hà, gặp gỡ các Cha và toàn bộ 8 nạn nhân bị xét xử trong vụ tranh chấp đất đai tại giáo xứ. Đoàn đã lắng nghe nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động tôn giáo ở Việt Nam nói chung, Thái Hà nói riêng .

Trong một tiếng rưỡi đồng hồ, Đoàn cũng cho biết là hôm qua Đoàn đã đến thăm nhà tù Ba Sao, Thăm cha Nguyễn Văn Lý và Luật sư Nguyễn Văn Đài. Cha Lý vui và nói nhiều vì Ngài bị biệt giam, không có người nói chuyện trong suốt một thời gian dài.

Luật sư Đài trông khỏe mạnh. Cả hai đều có kinh thánh để đọc và một “tờ báo của đảng”. Lúc ra về, tôi gặp chị Khánh ở sảnh của Khách sạn. Đoàn rất bận và cũng có những quan tâm rất cụ thể cho từng người.

Đoàn cũng dự định vào thăm Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Luật sư Lê Trần Luật và một số lãnh đạo tôn giáo khác ở Miền Nam để tìm hiểu kỹ hơn về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.  

Một thành viên của Đoàn đã nhận xét rằng: Cha Lý và Hòa Thượng Thích Quảng Độ thì bị buộc tội vì những vấn đề về chính trị nhưng khi gặp Ban Tôn giáo chính phủ thì những vị mặc áo Linh Mục và Hòa Thượng đều đứng lên nói những vấn đề hoàn toàn Chính trị, ca ngợi những thành tựu của Chính Phủ.

Tôi cho rằng không có một sự phân biệt rõ ràng giữa tôn giáo và chính trị. Khi người dân bị hạn chế về Quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và quyền tự do báo chí thì điều đó vẫn là một sự hạn chế của tự do tôn giáo. Tôn giáo gắn chặt với các sinh hoạt nhóm cộng đồng và là một phần quan trọng của xã hội dân sự.

Tôi cho rằng một xã hội dân chủ hơn là điều đảm bảo tốt nhất cho Nhân quyền và tự do tôn giáo và việc để cho Đoàn vào Việt Nam là một điều tốt đẹp.

Theo một thành viên trong Đoàn thì Chính phủ của Tổng Thống Obama rất quan tâm đến tình hình Tôn giáo, dân chủ và Nhân quyền nói chung, đặc biệt đất nước Việt Nam nhỏ bé vốn có nhiều duyên nợ với Hoa Kỳ, lại ở một vùng ông Obama rất thân thiết.

Có một kỷ niệm vui là Tiến Sỹ Scott Flipse – người mà Con gái tôi gọi thân mật là “Bác Scott”. Hôm nay Scot tặng “Thái Hà” một bộ quần áo trẻ sơ sinh, Scot mua ở Mỹ và khi mở ra mới biết ở nhãn ghi là “Made In Vietnam”.

Hóa ra có nhiều đang dùng tại Mỹ thực ra đã được làm ở Việt Nam và đang quay trở lại Việt Nam bằng đường “tiểu ngạch”. Hy vọng là giá trị về tự do tôn giáo và nhân quyền – như tôi cảm nhận được ở Mỹ - sẽ sớm thành hiện thực trên quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta qua những con người và phái đoàn cụ thể có tình yêu với nhân dân Việt Nam. 


Ảnh chụp cùng Ông Michael Cromartie - Trưởng Đoàn


Thursday, May 14, 2009

VIỆT NAM GIỮA CÁC CƯỜNG QUỐC



Mao Trạch Đông và Nixon năm 1972


VIỆT NAM GIỮA CÁC CƯỜNG QUỐC

Luật sư. Lê Quốc Quân

Hai mươi năm hòa bình hình thức

Nước ta coi như  hòa bình từ 1989.

Đó là lúc những đoàn xe tăng cuối cùng của Việt Nam do Liên Xô sản xuất lũ lượt rời khỏi đất nước chùa Tháp sau một thời gian chiếm đóng dài hơn thời gian quân đội Mỹ tham chiến ở Miền Nam Việt Nam.  

Bắt đầu hòa bình là lúc Đảng cộng sản đối mặt với sự khủng hoảng đến tột độ. Viễn cảnh tan rã của đế chế cộng sản lớn nhất hành tinh áp lực mạnh mẽ lên toàn bộ Việt Nam. Khi đó quan hệ với Trung Quốc và Mỹ vẫn căng như dây đàn. Trong Bộ chính trị, kẻ thì hồi hộp người thì lo sợ.

Thế nhưng, những người cộng sản vẫn ngoan cố một cách khéo léo, hạ bệ Trần Xuân Bách, tiếp tục cầm lái con  thuyền Việt Nam thêm 20 năm nữa sau khi người anh cả là Liên Xô tan rã.

Nguồn cảm hứng cho việc tiếp tục độc tài cầm lái là sự đi lên đầy bành trướng của một đàn anh cộng sản khác “Núi liền núi, sông liền sông”.

Khá lên, người đàn anh này thè “lưỡi bò” liếm sạch “mặt tiền” thằng em.

Lịch sử luôn có những khúc quanh của nó ! Hai mươi năm, không dài so với một đời người, ngắn so với một chế độ và chỉ là một tiếng thở dài của tự tình dân tộc Việt Nam.

Trong chiến tranh, máu của các chiến binh Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc đã thấm vào đất Việt Nam ta nên bây giờ đây ta sống ở hiện tại, để hoạch định chiến lược trong tương lai, ta phải hiểu quá khứ, hiểu rằng dân tộc chúng ta bị xô đẩy quẩn quanh giữa các cường quốc.

Qúa khứ chiến tranh và hội đàm mua bán !

Qúa khứ của Việt Nam chúng ta là một quá khứ chiến tranh. Suốt gần 500 năm qua, kể từ thời Hậu Lê năm 1527 và  nhà Mạc cướp ngôi năm 1540, đất nước chúng ta chiến tranh liên miên.

Đầu tiên là cuộc chiến Nam Bắc triều, đến Trịnh Nguyễn phân ranh. Hết phân ranh là Tây sơn-Nhà Nguyễn. Rồi chiến tranh chống Pháp, hết pháp là Mỹ, sau chia cắt là cuộc chiến Campuchia, kết thúc bằng một cuộc chiến biên giới với Trung Quốc vào năm 1979.

 Kẻ đô hộ chúng ta hơn 1000 năm trước lại là kẻ thù sau cùng với chúng ta - những người đồng chí Cộng sản. Cuộc vãi đạn dã man vào hải quân của Việt Nam ở Trường sa năm 1988 là bằng chứng tươi mới nhất về chiến tranh với Trung Cộng.

Trước đó, Trung Quốc và Mỹ đã một lần mặc cả về Việt Nam. Ngày 21/2/1972 - Nixon và Mao gặp nhau mừng rỡ, nâng ly rượu Mao Đài sóng sánh,  quân nhạc cử bài: “Hoa kỳ mỹ lệ”. Họ tuyên bố: “Cầu hữu nghị Mỹ Trung đã được bắc, tương lại thế giới giờ nằm trong tay hai nước chúng ta”.

Sau hội đàm, Trung Quốc chiêu đãi trọng thể với hơn 800 quan khách . Ngày 27 tháng 2 năm 1972 Tuyên cáo chung Trung – Mỹ được ký tại Thượng Hải. Sau đó 11 tháng,  Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Mỹ bỏ Nam Việt Nam, Trung Quốc bỏ bắc Việt. Hai thằng lớn ngoảnh mặt đi.

Liên xô thì không. Họ say mê “mở mang nước Chúa”, tiến đánh sang tận Afganistan. Họ tiếp tục viện trợ, giúp đỡ Bắc Việt Nam thống nhất một cách chân thành trong niềm tin tôn giáo cộng sản.

Sau đó, họ tiếp tục gửi quân và chuyển vũ khí để đánh Khơ Me đỏ và xuống cả vùng Đông Nam Á (nếu có thể). Trung Quốc biết rõ âm mưu. Cùng là Cộng sản, nhưng Khơ Me Cộng sản chống Xô viết cộng sản nên Trung Quốc coi họ là lực lượng thích hợp để chống Việt Nam.

Khơ Me đỏ tuyên bố thẳng thừng chỉ có chủ nghĩa cộng sản của mình mới thực còn tất cả là Cộng sản đểu. Để rồi những người theo chủ thuyết cộng sản lại giã nhau tóe lửa. Mìn nổ, máu đỏ ngập những bàn chân “tình nguyện quân” Việt Nam.

Khi “ốc không mang nổi mình ốc”, Liên xô tan rã, đẩy Việt Nam đến sự hoang mang. Họ tự phải hỏi Chủ nghĩa cộng sản là cái gì đây và là ai đây. Là máu, đấu tố và chiến tranh ?. Là Nga, Trung Quốc, Mỹ hay Nhật..?.

Thực tế là không có ! Chỉ có quyền lợi quốc gia và tổ quốc trên hết.

 Ảnh hưởng của Mỹ - Trung hôm nay

Hai mươi năm sau ngày hòa bình hình thức, dù cho người ta dựng cột mốc, đăng ký lãnh hải hay xây vành đai giới tuyến thì cũng không ngăn nổi sức tấn công của biên giới mềm trong xu hướng toàn cầu hóa như vũ bão hiện nay.

Nạn nhân mãn ở Trung Quốc buộc họ phải mở rộng không gian sống xuống phía Nam và thế mạnh của một cường quốc đòi buộc người Mỹ phải hiện diện nhiều nơi ngoài Mỹ.

Đô la với hình Washington tràn ngập các các gia đình Việt Nam. Thậm chí người dân có thể dùng Đô La mua hàng gia dụng giá rẻ của Trung Quốc ở chợ. 

Ở Hà Nội, Sài Gòn Trung tâm dạy học tiếng Trung đông nghẹt người, những giáo viên trẻ viết chữ Hán giản lược nhanh đến mức khó tả, dạy những bài hát tiếng Trung nói về tình yêu nồng nàn theo điệu hip hop, rất đi vào tâm hồn lớp trẻ.

Hàng hóa mang hình chữ Tàu ngập tràn từ ngõ nhỏ đến siêu thị lớn. Giọng oang oang của người Trung Quốc vang  khắp nơi, len lỏi lên tận vùng tây nguyên nơi họ vừa tìm được một nơi mà chắc chắn có thể bắt rễ để sống lâu dài.

Những ngành nghề chất lượng lao động cao như tư vấn, ngân hàng, tài chính,  đào tạo, IT ở Việt Nam đã, đang và sẽ dần dần do các doanh nghiệp Mỹ hoặc có nguồn vốn từ Mỹ xâm nhập và thâu tóm.

Những ngành nghề đơn giản như gia công hàng hóa, mua bán máy nông cụ, hàng hóa giá rẻ, vật dụng tiêu dùng phục vụ người thu nhập thấp ở Việt Nam sẽ dần dần do các Công ty Trung Quốc làm chủ.

Hôm nay ngôi nhà Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có cơ hội đón hàng chục ngàn thanh niên Việt Nam sang học tập. Hơn hai triệu người Việt tiếp tục gửi tiền về cho gia đình thường dân ở Việt Nam, nhiều triệu USD của các quan chức đang chảy ngược lại.

Hôm nay Việt Nam là đích đến của các nông dân Trung Quốc, đặc biệt  là các tỉnh lân cận, họ mở nhà hàng, tích cóp từng đồng, mở mang dây chuyền và hỗ trợ phát triển cho cộng đồng  riêng họ ở Việt Nam. Còn quan chức Việt Nam mang cả tài nguyên quốc gia làm quà triều cống thường niên.

Chỉ có con đường dân chủ hóa đất nước !

Buồn vì chịu ảnh hưởng của các nước lớn nhưng chúng ta không được xúc động một cách thiếu logic. Toàn cầu hóa là tất yếu và việc dịch chuyển lao động quốc tế là chuyện bình thường. Quan trọng là chúng ta phải mạnh lên.

Tôi đã từng đề cập về 8 chữ : “Liên Mỹ - Hòa Hoa- Dân tộc –Dân chủ”. Theo tôi, đó chính là kế sách hay nhất cho Việt Nam trong thế kỷ này, cả đối nội và đối ngoại. Bắt đầu từ trong ra ngoài, từ việc việc dân chủ hóa đất nước.

Chỉ có tự do, dân chủ mới thực sự giải phóng chúng ta, mới đem đến cho Việt Nam một sức sống  mới, liên kết được sức mạnh người Việt, quyến rũ được người Mỹ về những giá trị mà họ đang lớn tiếng bảo vệ.

 Chỉ có dân chủ, tự do báo chí, lắng nghe ý kiến của Nhân dân  mới có đối sách thích hợp với Trung Quốc, mới không để những nhà lãnh đạo phản động đi đêm ký tắt những Hiệp ước quan trọng rồi loay hoay như gà mắc tóc.

 Chỉ có dân chủ hóa, những người Việt Nam trên khắp thế giới mới tự tin rằng Việt Nam là trên hết chứ không phải là “chủ nghĩa Cộng sản” hay CNXH, không còn “thế lực thù địch”. Họ mới cùng chung tay xây dựng một Việt Nam mới trong thái bình và thịnh trị.

Chỉ có thực thi dân chủ dựa trên một ý thức dân tộc thì Việt Nam mới thực sự là nơi an toàn, thu hút chất xám, phát triển toàn diện, trở thành người tình của thế giới, người yêu của các cường quốc trong tà áo dài thướt tha.

Khi đó chúng ta mới thực sự mạnh lên. Nhân dân không phải bỏ ra 1,8 tỷ USD cho 6 tàu ngầm hạng Kilo, 500 triệu USD cho 12 “con” SU-30MK  và còn nhiều hơn thế, để mua tàu ngầm, máy bay, vũ trang quân đội, chuẩn bị chiến tranh, gồng mình như con choi choi giữa những cường quốc hiếu chiến mạnh hơn hàng trăm lần.


 

-------Con cò bay lả bay la -----

Wednesday, March 25, 2009

CÔNG LÝ - TRUYỀN THÔNG VÀ LUẬT SƯ




1.  Câu chuyện thứ nhất về Công lý

Phiên tòa phúc thẩm vụ Thái Hà sẽ được tổ chức vào ngày 27 tháng 3. Tám con chiên chuẩn bị bước chân lên vành móng ngựa lần thứ hai trên đường kiếm tìm công lý.

Công lý xem ra vẫn là điều khá xa vời với họ trong một quốc gia mà truyền thông chỉ để phục vụ cho quyền lợi của một nhóm người. Đơn kiện các cơ quan truyền thông đã bị trả và công an tuyên bố thẳng thừng luật sư của Họ sẽ không được ra tham dự phiên tòa.

Công lý gợi nhớ vụ kiện Dioxin. Trong khi các chuyên gia muốn bàn về chứng cứ pháp lý thì lãnh đạo lại chỉ quan tâm đến “nhiệm vụ chính trị”. Từ đó dàn đồng ca về công lý vang lên. Sự ồn ào nhiều khi đã che lấp sự thật và xóa nhòa những cơ sở pháp lý lẽ ra phải được nghiên cứu đầy đủ và viện dẫn lôgic.  

Công lý của các giáo dân Thái Hà  ngày 27 tới đây có kết thúc như Quyết định của Tòa án Hoa Kỳ  hay không là điều dễ đoán vì chưa bao giờ luận cứ bào chữa cho vụ án chính trị được xem xét cẩn trọng. Nhưng nhiều nhà thờ bắt đầu một chiến dịch thắp nến cầu nguyện cho cả bị cáo và luật sư.

Công lý là cái lý chung nhưng đòi hỏi thực thi trên từng cá nhân cụ thể. Có thể việc cầu nguyện cho những điều tưởng như đơn giản đó sẽ sẽ biến thành những cơn sóng thần cuốn đi nhiều thứ khác.

Bởi vì công lý không phải là một quyết định đơn thuần bằng giấy mà là sự hậu thuẫn của sự thật, lòng tin và niềm xúc động lớn laoCông lý của hàng triệu giáo hữu Việt Nam và hàng triệu nạn nhân chất độc da cam không thể bị kết thúc đau đớn và thô bạo bằng một tờ giấy hoặc 1 cái lệnh mồm từ Lầu năm góc hay Bộ công an.

Công lý luôn có chỗ đứng mạnh mẽ vượt cả thời gian và không gian. Nó cho thấy mong ước lương thiện là một bản năng rõ rệt của con người và được đảm bảo bằng lịch sử.




2. Câu chuyện thứ hai về truyền thông 

Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm – Bà Việt  nói: “Luật sư ơi, mỏi cổ quá” vì bị cáo đã cố gắng ngẩng đầu trước hai “con quái vật một mắt” chạy rè rè xoáy vào chính họ trong suốt phiên xử.

Dù họ không hề nhận tội, bản tin thời sự vẫn loan tin rằng: “Các bị cáo đã cúi đầu nhận tội”. Giọng phát thanh viên đêm đó gợi cho ta nhớ về một chú Chí Phèo suy dinh dưỡng nằm ở phía bắc của đất nước nhiều nhân sâm.

Đứng trước cảnh vu cáo vênh vang đó, các bị cáo đã làm đơn kiện các cơ quan truyền thông.  Đơn kiện của họ đã chính thức bị chối từ bằng một văn bản mà dù là người giỏi về Việt ngữ nhất cũng không hiểu thực chất là văn bản đó muốn nói đến cái gì.

Nhưng dù bị trả đơn thì việc tìm kiếm sự thật đã đem lại thắng lợi chung cho độc giả Việt Nam. Những cụm từ như“kim loại màu vàng”  chất bột màu trắng” hoặc “theo nguồn tin” đã được lặp lại nhiều hơn trong các bản tin trên báo chí gần đây.

Tuy nhiên, sự  bảo thủ vẫn nằm ở các cơ quan truyền thông của Đảng. Trong khi các báo Tuổi Trẻ, Thanh niên điểm tin dè dặt về các sự kiện đối với các giáo dân thì  Hà nội mới và Sài gòn giải phóng chạy những bài phóng sự vu cáo một cách thô thiển đến mức “mất khách”.

Rút kinh nghiệm từ việc hoang tin lần trước, lần đưa tin về phiên xử phúc thẩm sắp tới là một cơ hội để các cơ quan truyền thông sửa mình hoặc tiếp tục tra tấn độc giả bẳng những ngôn từ phản cảm.  




3.      Câu chuyện thứ 3 về Luật sư và an ninh.

Câu chuyện của Luật sư Luật là một điển hình thú vị về luật pháp Việt Nam. Nó có thể là cốt truyện sinh động cho một trường thiên trinh thám.

Luật sư Lê Trần Luật đã 4 lần đào thoát để kiếm đường ra Hà Nội thực thi nhiệm vụ bào chữa của mình theo giấy của tòa án nhưng đều thất bại.  

Lần 1 ông bị ghì chặt ở một siêu thị đông người khi thất bại trong nỗ lực biến mất giữa  đám đông vì các chiến sĩ an ninh ‘thở sát ngay sau gáy”.

Lần 2 là khi cơ quan an ninh quyết định lục tung hành lý, can thiệp dừng chuyến bay để buộc Luật sư phải quay về công an Quận Gò Vấp  “nghỉ ngơi”.

Lần thứ 3, nhờ đục thủng một bức tường mà Luật sư đã qua mặt được 4 mật vụ ngay trước cửa. Khi đang yên vị ở Xa lộ Hà Nội chờ chị Tần lên đường thì 15 người đã ập đến. Cú điện thoại gọi cho chị Tần, dù thay sim mới, đã bị định vị và cả một chiếc “đuôi công” đã theo Chị ùa vào gặp anh.

Trước 3 lần thất bại, có người hiến kế nên đi ăn trong một nhà hàng trên sông hoặc nhà nổi trên hồ rồi nhờ ca nô đi mặt sau tụt người xuống và lặn mất. Một thủ thuật vốn những điệp viên cộng sản thường dùng trong suốt những năm chiến tranh mang đầy màu sắc trinh thám trong những phim hành động siêu hấp dẫn.

Và cuộc đào thoát lần thứ 4 của Luật sư đã kết thúc vào lúc 3h30 sáng khi Luật sư đã cách Sài Gòn hơn 300 km. Lần này Luật sư bị chặn xe lại trong một biện pháp tổng lực là ngăn chặn tất cả các tuyến xe trên đường ra Hà Nội ngoài một lực lượng lớn kiểm soát đường sắt và đường thủy.

Một cán bộ an ninh đã nói “các ông dân chủ thời nay thích salon, ít phiêu lưu nên thiếu kịch tính”. Ít nhất điều này là sai đối với trường hợp LS Luật. Ông đã tạo ra sự hồi hộp, niềm say mê và vui mừng cao độ cho các mật vụ khi “chộp” được ông tại Huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận.

LS Luật đã đem đến cho nhân viên an ninh cơ hội học tập. Nếu như trước đây chỉ cần có lệnh là “thịt” thì ngày nay những đòi hỏi về pháp quyền đã làm cho tất cả các bên lớn lên trong một nền tri thức nơi các giá trị đạo đức và trí thông minh có quyền thể hiện và chinh phục lẫn nhau.

Nhưng đừng tưởng bở vì tôi có kinh nghiệm buồn về chuyện này.

Tôi nhớ Phạm Văn Trội – một người bạn giờ đang trong tù - nhận được giấy mời của tòa án đến tham gia phiên phúc thẩm LS Đài và Công Nhân với tư cách là nhân chứng. Công an tỉnh Hà Tây lệnh không được đi. Nhưng vì tin vào pháp quyền mà tôi khuyên rằng: “Anh phải lên tòa vì nếu không tham dự, tòa có thể xử anh về tội xem thường tòa án” .

Anh Trội đã nghe lời mà lên Hà Nội. Khi đến trước cổng tòa án công an hô ầm lên như đuổi vịt: “Thằng Trội – bắt lấy nó”. Nhân chứng cầm tờ triệu tập của tòa co giò chạy nhưng mấy tay “ghét sách thích thể dục” nhanh chân rượt theo tóm được. Họ đập đầu nhân chứng vào một cây cột điện trước khách sạn Melia và tống thẳng về Hà Tây. Những cuộn cơ vô tri đó 1 tiếng sau tung chưởng vào bộ hạ Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và xiết chặt yết hầu tôi.

Hôm nay, Luật sư Luật đã được nhận giấy bào chữa của Tòa nhưng “Tao đố mày  ra được Hà Nội. Nếu cần 1 ngàn  người để chặn mày chúng tao vẫn có”.

Tuyên bố miệng đó của công an TPHCM là nhổ vào tòa án Hà Nội, là một cú tát vào nền tư pháp Việt Nam, vào những ai yêu mến pháp luật trước một phiên tòa đang thu hút sự chú ý cao độ của dư luận.



Tuesday, January 27, 2009

THÁI HÀ CON YÊU !


Thế là Cha Mẹ đã có đưa con thứ 2 !

Thái Hà ơi, con cất tiếng khóc chào đời vào lúc rạng đông của một ngày mới trong những ngày đầu tiên của một năm mới. Hôm nay là sáng mồng 3 tết kỷ sửu. Con gái được sinh ra vào đúng lúc những người nông dân lục tục dậy để đánh trâu ra đồng làm việc. 

Con ơi, trước mắt con là cả một quãng đời với bao nhiêu buồn vui xúc động mà khi oe oe khóc tiếng khóc chào đời con không hề được biết đến hay lựa chọn. Nhưng Con ơi, Cha mẹ tin rằng con đã được sinh ra trong một gia đình đầy tình yêu thương. Cha mẹ cũng biết rằng con đã ra đời trong một đất nước với rất nhiều việc phải làm. Cha cảm được niềm vui tràn ngập trong mắt mẹ và cả sự lo lắng sâu xa về tất cả những khó khăn chúng ta gặp phải giữa cuộc đời trầm luân này !

Có khác nhau không khi con sinh ra ở Pháp, ở Mỹ hay ở Nhật. Khác ! chắc chắn là như vậy rồi. Bắt đầu từ những nữ hộ sinh ít cười khi bế trẻ, lối đi hẹp và nhiều rác của bệnh viện Phụ sản, bằng việc cô Thao phải chạy cả đêm để đi mua một hộp sữa theo yêu cầu....Nhưng, con ơi - được sinh ra ở Việt Nam là một điều tốt đẹp cho chính con, và hạnh phúc cho cha mẹ. Đây là tổ quốc thực sự của con, sẽ là nơi chôn rau cắt rốn của con, nơi mà cha mẹ, ông Bà tổ tiên ta đã từng chôn rau của mình. Đây sẽ là nơi con đến để phục vụ, là nơi có nhiều việc con sẽ phải làm. 

Con biết không ? cảm xúc của cha khi thấy con lần đầu thật là vui. Cô hộ sinh trao con cho cha ở tầng 3 khi mẹ vẫn nằm ở trong phòng mổ. Mắt con chớp chớp nhìn cha, hai chân co mạnh lên. Con to và cứng cáp hơn là cha tưởng tượng.

Thái Hà ơi, khi cha mẹ quyết định đặt tên cho con, bạn bè bảo rằng: “Tên đó nghe không bình an chút nào”. Không bình an là bởi vì Nhân dân đã nghe quá nhiều điều không đúng về Thái Hà. Chính quyền đương thời đã bạo động hóa cái tên vốn bình yên đó thông qua vụ việc Giáo dân Thái Hà phát hiện và tấn công một vụ tham nhũng lớn vào năm 2008.

Con ơi, dù vậy, cha mẹ vẫn quyết định đặt tên con là Lê Nguyễn Thái Hà, em của Lê Nguyễn An Hà. Bởi nếu như sự không bình yên của Cha hay của Con mà có thể mang lại bình an cho nơi khác hay cho một người nào đó khác thì cũng xứng đáng rồi.

Cha cảm ơn Trời vì đã cho cha một hài nhi bé bỏng giữa cuộc đời này. Cầu mong con được chúc phúc để trở thành một người con tốt trong gia đình, một công dân có ích cho dân tộc !

6h30 phút sáng 28/1/2009 (ngày mồng 3 tết kỷ sửu)


Sunday, December 07, 2008

BÀI BÀO CHỮA CHO CÔNG LÝ Ở THÁI HÀ


BÀI BÀO CHỮA CHO CÔNG LÝ Ở THÁI HÀ

(Xét trên bình diện luật pháp )

Ngày 8/12/2008, Tòa án Nhân dân Quân Đống Đa mở phiên tòa xét xử 8 bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”“Hủy hoại tài sản” theo điều 245 và Điều 143 Của Bộ Luật Hình sự nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam (BLHS). Tiếp theo sau bài bào chữa xét trên bình diện công lý và đạo đức, nay căn cứ theo luật pháp của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi xin nêu ra sau đây 10 điểm để khẳng định những cáo buộc đối với những bị cáo đó là hoàn toàn sai trái:  

 

1.     Thứ nhất là: Các bị cáo bị truy tố về Điều 245 BLHS về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Định nghĩa của tội này rất rõ: “Gây rối trật tự công cộng là hành vi làm náo động trật tự ở nơi công cộng”[1] . Thực tế giáo dân cầu nguyện rất trang nghiêm nên gán ghép vào tội này là sai. Mặt khác Điều 9 Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo quy định: “Người có tín ngưỡng được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt của tôn giáo mà mình tin theo”. Nói thẳng ra, tòa án đang dùng điều 245 BLHS để xử việc dân cầu nguyện, nghĩa là xử Điều 9 Pháp lệnh về Tín ngưỡng - Tôn giáo. Họ chỉ là nạn nhân của một phương thức đàn áp tôn giáo tinh vi.

 

2.     Thứ hai là: Các bị cáo bị truy tố Điều 143 về tội: “Hủy hoại tài sản”. Hủy hoại theo Định nghĩa chính thức là: “Huỷ hoại là phá cho tan nát, làm hư hỏng hoàn toàn”[2] . Thực tế bức tường mới bị nhà nước xóa sổ hoàn toàn còn cáo trạng xác nhận là đã bị phá hủy 3m với giá trị 3.479.990 do khoảng 300 người cùng tham gia. Do giá trị tài sản dưới 500,000 đồng cho mỗi bị cáo nên họ không phạm tội hủy hoại tài sản theo luật. Nhà nước đã dùng tình tiết “có hậu quả nghiêm trọng” để cố tình truy tố họ với tội danh trên. Như vậy phải nói thẳng ra, Tòa án thấy việc cầu nguyện là nghiêm trọng và xét xử họ vì tính chất đó chứ không phải là do hủy hoại bức tường. Điều này phải thừa nhận thẳng thắn vì nếu loay quay về mặt luật pháp thì sai sẽ càng sai bởi chưng sau một thời gian điều tra công an đã phải thừa nhận là không thể cấu thành được tội hủy hoại tài sản[3]. 

 

3.       Thứ ba là: Khi xem xét một hành vi phạm tội luật pháp đòi buộc phải tìm hiểu nguồn gốc, động cơ và mục đích của tội phạm. Khu đất ở 178 Nguyễn Lương Bằng là thuộc quyền sở hữu của Giáo xứ Thái Hà và đã bị các cơ quan chiếm đoạt và sử dụng trái phép và có nguy cơ bị tham nhũng, chia chác. Khu đất này có nguồn gốc tạo thành một cách hợp pháp cả về pháp lý lẫn thực tế[4]. Công ty May Chiến Thắng chiếm dụng bất hợp pháp[5] thì mọi thứ được xây dựng phía trên khu đất ấy nếu không được sự đồng ý của chủ nhân thật sự của khu đất đều là xây dựng bất hợp pháp, cần phải tháo dỡ. Luật pháp buộc UBND Hà nội cần phải có quyết định ghi nhận việc sử dụng khu đất này và giao lại cho Dòng Chúa Cứu Thế sử dụng[6]. Động cơ và mục đích của những giáo dân này không phải là tạo sự náo động hoặc cố tình hủy hoại cho tan nát tài sản, để phá phách mọi thứ mà là cố gắng dỡ bỏ bức tường để vào dọn dẹp, làm sạch và đặt tượng cầu nguyện.

 

4.       Thứ bốn là: Nói đến vi phạm pháp luật là phải nói đến hành vi và thái độ khi thực hiện hành vi[7]. Các bị cáo hôm nay không có một hành vi cụ thể nào theo luật định để phạm vào tội gây rối trật tự công cộng cả ngoài việc cầu nguyện. Khi gỡ bỏ bức tường để và cầu nguyện là họ tin vào hành vi của mình làm là đúng. Khi đang làm thì hoàn toàn không có sự câu kết chặt chẽ, không ai tổ chức, không ai xúi giục, không ai giúp sức mà chính tự trái tim thúc giục mà thôi vì các giáo dân cho rằng đó là hành động tốt đẹp. Bởi vậy nếu kết án những người dân này thì chẳng đem lại kết quả răn đe gì. Đối với người công giáo thì khi đã tin mình vô tội. Dù có bị kết án thì họ vẫn là người công chính trước mặt Thiên Chúa và sẵn sàng đối mặt với mọi thử thách. Thậm chí các giáo dân còn coi sự hy sinh của mình là được Chúc phúc.

 

5.       Thứ năm là: Nói đến vi phạm pháp luật là nói đến hậu quả xảy ra. Hậu quả thực tế của các hành vi cầu nguyện này là không có. Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm nếu có: Hành vi xảy ra, có hậu quả xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả. Bức tường cuối cùng cũng đã bị mất đi hoàn toàn do nhà nước, đất đai đã bị Nhà nước lấy đi[8]. Theo cáo trạng là Công ty May Chiến Thắng bị thiệt hại nhưng hàng loạt các văn bản thực tế đã chứng minh sự thiệt hại là không hợp pháp, hợp lệ[9]. Hàng ngàn người cầu nguyện rất lâu sau đó không hề có một biểu hiện nào chửi bới, trộm cắp hay làm mất mát bất cứ một thứ gì của công ty. Chỉ có một hậu quả ghê gớm là nếu những bị cáo này bị kết án bất công, hình ảnh Việt Nam sẽ bị suy giảm trầm trọng và cuộc đấu tranh cho công lý vẫn tiếp tục âm ỉ lâu dài.

 

6.       Thứ sáu là: Nói đến tội phạm là phải nói đến nhân chứng, vật chứng. Đây là một vụ án không có vật chứng và nhân chứng thì có dấu hiệu thiên vị vì chỉ mời những người cốt cán trong chính quyền hoặc có thái độ kỳ thị công giáo. Thông thường những vụ gây rối trật tự hay hủy hoại tài sản thì vật chứng là hiển nhiên và được thu thập rất nhiều. Vì vật chứng là “Vật có giá trị chứng minh tội phạm”[10]. Trong trường hợp này bức tường không còn nữa vì Nhà nước đã cho biến mất; Kìm cắt dây thép gai, gậy gộc, ván gỗ dùng để phá tường không có; Trong cáo trạng ghi rõ mục: Tang vật: Không !. Thực tế chỉ có một đoạn phim quay trên TV. Đoạn phim đó chỉ có giá trị tuyên truyền chứ không có giá trị chứng minh theo luật. Bởi vì nếu để gọi là chứng cứ thì phải thu thập hợp pháp, phải giao nộp cho cơ quan điều tra, có biên bản, có sự chứng kiến và giám định là đúng (nếu được yêu cầu..)[11] thì mới coi là có chứng cứ. Vụ án không có vật chứng khẳng định sự bấp bênh trong buộc tội nhưng lại tố giác những nhân viên an ninh đã phạm tội vì họ chỉ cố gắng dùng máy ghi hình mà không ngăn chặn tội phạm đang xảy ra theo quy định của pháp luật;

 

7.       Thứ bảy là : Các cơ quan tố tụng có dấu hiệu rõ ràng phạm tội “Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội” theo điều 294 của BLHS. Hành động xịt hơi cay, đập phá nhà nguyện gãy cổng, gây náo loạn, đánh người già đổ máu, trẻ em ngất, hất chất thải lên bàn thờ tượng Đức Mẹ[12]… đều là vi phạm pháp luật hình sự và có cấu thành tội: “Gây rối trật tự công cộng rất rõ ràng” nhưng cho đến nay chưa có ai làm việc đó bị khởi tố cả[13].  Trong khi đó lẽ ra những giáo dân cần phải được tuyên dương vì đã có công phát hiện và đập tan một âm mưu tham nhũng đất đai lớn. Việc làm của họ là yêu nước vì họ đang tham gia tiễu trừ quốc nạn. Nhà nước muốn tiếp tục cầm quyền thì nên khen thưởng họ chứ không phải bỏ tù họ.  

 

 

8.       Thứ tám là:Các cơ quan tố tụng có vẻ như đã bị ép xử sai luật. Một điều rõ ràng nhất là sau khi tiến hành điều tra, các cơ quan công an đều thấy không kết tội “Hủy hoại tài sản” được nên đã loại bỏ tội này. Tuy nhiên khi đưa sang Tòa án thì dù chưa xử nhưng tòa cũng vội vàng yêu cầu cơ quan công an bổ sung tội “hủy hoại tài sản”. Tòa án biết rõ ràng rằng  trong trường hợp này buộc phải có “phá phách, hủy hoại tài sản” thì mới cấu thành được tội “Gây rối trật tự công cộng”. Nếu không có hành vi phá phách thì không thể thành “Gây rối trật tự cộng công”. Cho nên tự 2 yếu tố trên đã loại trừ lẫn nhau, phủ định lẫn nhau.

 

9.       Thứ chín là:Pháp luật đòi hỏi sự công bằng trong hành vi, nếu đã phạm tội thì ai cũng phải bị xét xử như nhau. Những nhận xét “vồ được con nào bị con đó” là hoàn toàn trái với tinh thần pháp luật. Trong sâu thẳm lương tâm, các cơ quan tố tụng không tự tin khi đưa vụ việc ra xét xử theo luật vì thực tế tội của các giáo dân không xứng đáng phải làm như thế. Chính Thiếu tướng Nguyễn Đức Nhanh, giám đốc Công an Hà Nội đã nói: “không muốn bỏ tù người giáo dân vô tội”[14]. Vậy tại sao phiên tòa vẫn cứ tiến hành và sẽ được điều gì. Biểu hiện rõ nhất của việc này là cáo trạng tập trung nhằm biện minh cho hành động của Nhà nước mà  không đi sâu vào chứng minh tội phạm của các bị cáo[15]. Cáo trạng đưa ra nhiều đoạn không hề liên quan đến 2 tội bị cáo buộc như nói về những phụ nữ Mường hay lời phát biểu của Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt.

 

10.  Thứ mười là: Sự thật rằng đây không phải là một vụ án hình sự mà là một vụ án chính trị. Tất cả các bên đều hiểu điều đó. Để giải quyết vấn đề phức tạp này, chỉ có một cách duy nhất đó là các Thẩm phán và hội thẩm nhân dân quyết tâm tách độc lập khỏi sự chỉ đạo của cấp trên và triệt để tuân theo pháp luật để tuyên trắng án cho những bị cáo này đồng thời tuyên bồi thường danh dự, nhân phẩm và uy tín cho họ. Khi làm điều đó là lúc các Thẩm phán tuân thủ pháp luật nhất[16]. Họ không chỉ đặt nền tảng quan trọng trong việc độc lập xét xử của tòa án mà còn lát viên gạch đầu tiên trong quá trình hòa hợp và hòa giải dân tộc giữa các bên, hầu kiến tạo một Việt Nam độc lập, thống nhất và tự chủ đủ sức đương đầu với các thế lực ngoại bang đang lâm le bờ cõi.

 

Hà nội, Ba ngày trước phiên xử sơ Thẩm

Luật sư. Lê Quốc Quân


[1] Bình luận khoa học bộ luật hình sự, Đinh Văn Quế, Chánh tòa hình sự tòa án Nhân dân tối cao, Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM, trang 261

[2] Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên – Bộ giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Văn Hóa Thông tin, Trg.854

[3] Ban đầu bản kết luận điều tra Của cơ quan an ninh điều tra đã loại bỏ tội Hủy hoại tài sản nhưng sau khi có cáo trạng gửi đến Tòa án. Mặc dù chưa xử nhưng Tòa thấy rõ ràng rằng nếu bỏ tội hủy hoại tài sản thì sẽ không có chuyện phá phách và như vậy cấu thành tội phạm Gây rối trật tự công cộng cũng bị phủ định nên đã có văn bản bổ sung thêm tội “Hủy hoại tài sản theo điều 143”

[4] Có hàng loạt văn bản pháp lý mà Nhà thờ Thái Hà đã đưa ra, Quý tòa có thể tham khảo như: Nguồn gốc hợp pháp mua năm Năm 1928, có Bản đồ Sở Qủan thủ điền thồ ngày 16/8/1944, Cư trú hợp pháp liên tục từ 1928; dùng vào mục đích phụng sự tôn giáo không bị cải tạo, trưng thu, trưng mua, trưng dụng…

[5]Điều 1, Sắc Lệnh của VNDCCH ký ngày 20/09/1945, Điểm 3 Nghị Quyết của Quốc Hội ngày 26/3/1955; Điều 6, Sắc lệnh số số 234/SL Ngày 14/6/1955; LCCRD số 73/TTg ngày 07/07/1962. Nghị quyết số 23/2003/QH11 điều khẳng định đất này chưa bị điều chỉnh theo các văn bản pháp luật đã ban hành. Việc viện dẫn thông tư 73/TTG ngày 7/7/1962 là không hợp lý cả về mặt luật và mặt thực tế.

[6] Theo Nghị định 127/2005/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005 của UBTVQH,

[7] Khoa học luật hình sự quy định rất rõ về tính chất lỗi trong hành vi: Lỗi có cố ý trực tiệp, cố ý gián tiếp, vô ý do cẩu thả, vô ý do quá tự tin, về lý trí, về ý chí khi thực hiện…Giáo trình luật Hình sự, Đại học luật Hà Nội , Nhà xuất bản Công an Nhân dân 2006

[8] UBND Thành phố Hà nội đã tức tốc ra quyết định số 856/QĐ-UBND ngày 22/9/2998 thu hồi 13.649,7 m2 đất tại 178 Nguyễn Lương Bằng, quận Đống Đa và khẩn cấp xây dựng một công viên trên khu vực bị tranh chấp.

[9]Công ty May Chiến Thắng lập danh sách chi tiền cho 308 người cho công nhân nhưng lại không có hợp đồng, không có danh sách ký nhận, không có phiếu chi tiền hợp lệ, không có đánh giá về sự thiệt hại theo trình tự luật định về tinh thần và vật chất.

[10] Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên – Bộ giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Văn Hóa Thông tin, Trang.1804.;.

[11] Điều 64,65 Chứng cứ- Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, Nhà xuất bản tư pháp 2004. Trong đó ghi rất rõ về việc phải khám xét, khám nghiệm, trưng cầu giám định, thu thập chứng cứ, bảo quản chứng cứ,

[12] Căn cứ vào Đơn và xem các đoạn băng Video, các hình ảnh của Gíao xứ Thái Hà cung cấp, căn cứ vào điều 13, Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự ghi rõ trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự khi có dấu hiệu tội phạm.

[13]Có các văn bản tường trình, phim video và các hình ảnh xác nhận rõ giáo dân bị đánh, bị xịt hơi cay, Cổng DCCT bị phá vỡ và hàng trăm bài báo vu khống, mạ lị các vị chủ chăn của Giáo Hội

[14] . Thiếu Tướng Nguyễn Đức Nhanh công an Hà Nội đã ngụ ý rằng những giáo dân bị bắt giam là vô tội và sẽ không bỏ tù họ nhưng cho đến giờ 2 người vẫn bị giam giữ và không ai chắc là sẽ có các bản án nhẹ nhàng.

[15] Bình thường để xử một vụ án Cơ quan công tố ( Viện Kiểm sát ) phải ra cáo trạng nêu rất rõ: Chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan của tội phạm theo như quy định trong luật.

[16] Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự Vịêt Nam quy định rõ khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Bộ chính trị đảng CSVN cũng có nghị quyết 08/BCT về việc đẩy mạnh cải cách tư pháp theo hướng độc lập. Nhưng trên thực tế, án bỏ túi là điều phổ biến, đặc biệt đối với những vụ án chính trị như vụ này.