Wednesday, May 19, 2010

TRUNG QUỐC ĐÃ MUA ĐỨT CHÂU PHI


Lời người dịch: Trung Quốc ngày càng lấn át trên biển Đông cũng như ở biên giới phía Bắc. Không những thế, họ còn thò tay vào tận Tây Nguyên qua các dự án khai thác Bauxite. Gần đây, những cánh rừng đầu nguồn của nước ta bị họ chiếm đoạt qua những hợp đồng thuê mướn dài vài chục năm với giá hết sức rẻ mạt.


Năm ngoái, một báo cáo của bộ Xây dựng đã cho biết, họ trúng thầu hầu hết các dự án xây dựng lớn ở Việt Nam . Công nhân Trung Quốc sang làm việc chui đã nằm ngoài tầm kiểm soát của bộ Lao động và Thương binh Xã hội, gây ra nhiều tệ nạn thậm chí xung đột ở những vùng mà họ cư trú.

Ở châu Phi, Trung Quốc đã lũng đoạn cả về kinh tế lẫn chính trị. Bài dịch (1) hy vọng cung cấp tới bạn đọc một cái nhìn về hiểm họa Trung Quốc đang ngày một gia tăng với đất nước ta.


—————————————————


Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ những năm đáng ghi nhớ của châu Phi, khi 17 quốc gia của lục địa này cùng giành được độc lập. Ngày nay, những người châu Á – mà chủ yếu là Trung Quốc – đã thay thế các cường quốc thực dân cũ để tiếp tục các cuộc chinh phục. Và có thể, nó sẽ tạo ra cơ hội để giải quyết những bế tắc của châu Phi?

Trong các chuyến bay giữa thủ đô các nước châu Phi, thường có các hành khách đi du lịch với hộ chiếu của Trung Quốc. Tới châu Phi là các công nhân Trung Quốc, giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, giới ngoại giao, các thương gia lớn và cả những người với mơ ước mở một cửa hàng nho nhỏ ở một nơi nào đó tại Uganda. Trong những năm gần đây, hơn 1 triệu người Trung Quốc đã tới châu Phi, ở Algeria khoảng 50.000, Angola lên tới hơn 100.000, còn ở Nigeria số người Trung Quốc sống ở đây nhiều hơn so với người Anh trong thời kỳ thuộc địa. Làn sóng di dân này bắt đầu từ mười mấy năm trước và tăng mạnh trong vài năm gần đây.

Khởi đầu vào tháng Năm 1996, khi Giang Trạch Dân đi thăm châu Phi trong lúc lục địa này đang bị phương Tây quên lãng.

Tại Addis Ababa (thủ đô của Ethiopia – ND), Giang Trạch Dân đã nói với các nhà lãnh đạo của châu lục này trong cuộc họp thượng đỉnh của Tổ chức châu Phi Thống nhất rằng: Các công ty Trung Quốc sẽ làm cho các cửa hàng ở châu Phi đầy ắp hàng hóa, còn châu Phi sẽ cung ứng nguyên liệu để Trung Quốc – nhà máy của thế giới – sản xuất hàng hóa cung cấp cho toàn cầu…

Trung Quốc đã nhận ra một điều hết sức đơn giản: Có thể mua tận gốc tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản từ các nhà khai thác và không phải thông qua các trung gian tại Thị trường Nguyên liệu London (LME), nơi thường áp đặt giá khoáng sản cho cả thế giới- ông Richard Dowden, giám đốc của Hiệp hội Hoàng gia châu Phi, có trụ sở tại London giải thích.

Tiếp cận kiểu Trung Quốc

Tại Addis Ababa và thủ đô của một số nước khác, Giang Trạch Dân đã đưa ra nhiều nguyên tắc theo kiểu Trung Quốc. Đổi lại việc kinh doanh, nhượng quyền khai thác mỏ, khai thác dầu hỏa, quyền mua đất, Trung Quốc sẽ xóa nợ, viện trợ và đầu tư lớn, xây dựng các đập nước, trường học, bệnh viện, dinh tổng thống, xây dựng lại đường giao thông bị hư hỏng, cầu cống, đường sắt, hải cảng.

“Ngoài tiền bạc, Trung Quốc cũng cam kết sẽ ủng hộ các chính phủ ở châu Phi”, ông Princeton N. Lyman – chuyên gia của Hội đồng Quan hệ Quốc tế ở Washington, đồng thời là cựu Đại sứ Mỹ tại Nigeria và Nam Phi – nói.

Trung Quốc đã ban tặng cho các nước châu Phi tình hữu nghị vô điều kiện và họ cũng không tiếc lời khen ngợi dành cho kẻ độc tài ở Sudan là Omar al-Baszir, người đang bị tòa án Quốc tế Hague truy nã về tội ác diệt chủng khoảng 250.000 thường dân.

Trung Quốc đã nói với các chính trị gia châu Phi rằng: Chúng tôi là những người anh em của các bạn, chúng tôi không phải là thực dân giống như những người châu Âu hay người Mỹ. Chúng tôi không nói với các bạn rằng, các bạn cần phải làm gì và quản lý đất nước ra sao, cũng không đề cập đến nhân quyền mà chỉ làm sao để 2 bên cùng có lợi. Những lời đường mật này rót vào tai Bashir, người sau đó đã cho Trung Quốc khai thác các giếng dầu Sudan , nơi sẽ cung cấp một phần mười lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc.

Sau hơn chục năm, các chính sách của Giang Trạch Dân đã đạt được kết quả mong đợi. Trung Quốc trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại châu Phi và là nhà cung cấp viện trợ phát triển lớn thứ 2 sau Mỹ – Giáo sư Scarlett Cornelissen, người đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc tại Đại học Stellenbosch ở Nam Phi, người đã nhiều năm theo sát hoạt động của Trung Hoa trên lục địa này- phát biểu.

Năm 1996, năm mà Giang Trạch Dân tới châu Phi, kim ngạch thương mại giữa châu Phi và Trung Quốc ước tính mới khoảng 5 tỷ USD.

Trong năm 2008, kim ngạch giữa Trung Quốc với châu lục này đã tăng 20 lần, vào khoảng hơn 100 tỷ Mỹ kim. Một phần tư trong tổng kim ngạch này là từ Angola, nơi cung cấp 16% trong tổng lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc – nhiều hơn Iran, một đối tác truyền thống và đồng minh đắc lực của Bắc Kinh. Ngoài ra, dầu hỏa từ 2 quốc gia châu Phi khác là Libia và Nigeria cũng không ngừng chảy vào Trung Quốc.

Các quốc gia như Nam Phi, Equatorial Guinea , Zambia , Zimbabwe và Congo thì trở thành nguồn cung cấp kim loại quý, kim cương và gỗ cho Hoa lục. Người ta tính, cứ 10 cây bị đốn ở Châu Phi thì có 7 cây được chở tới Trung Quốc. Dòng chảy ngược lại từ phía Trung Quốc bao gồm máy móc, điện thoại di động, thuốc, xe hơi và quần áo. Chưa có bao giờ, các sản phẩm như Coca-Cola đến được những vùng sâu, vùng xa nhất của châu Phi. Bây giờ, ở những nơi đó, trong những quầy hàng là những lon Coca- Cola và những chiếc bát nhựa màu đỏ, đèn pin và đồ điện tử… Tất cả đều cực kỳ rẻ và được sản xuất tại Trung Quốc.

“Đối với nhiều người dân châu Phi, đây là lần đầu tiên trong đời, họ có đủ tiền để mua một chiếc radio hay một cái đồng hồ” - ông Dowden nói.

Trái ngọt từ châu Phi

Chiếc cầu Vàng ( Golden Bridge ) được xây dựng ở một nơi nghèo đói và bụi bặm, thuộc Lusaka . Kiến trúc sư Trung Quốc, không phải ngẫu nhiên, đã thiết kế giống như hình dáng của một ngôi chùa với chiếc mái cong cong. Họ muốn rằng, những người Trung Quốc sống ở đây, sẽ cảm nhận được bầu không khí của quê hương.

Nơi đây không thiếu người Trung Quốc: trong khu vực Lusaka , có vài ngàn người Trung Quốc đang sống và liên tục xuất hiện những người mới tới. Đây là vùng có trữ lượng đồng rất lớn thuộc Zambia mà Trung Quốc luôn quan tâm. Thực ra, họ nhòm ngó đến bất kỳ lĩnh vực nào của nền kinh tế, với mục đích đoạt quyền sở hữu các mỏ.

Trong tháng Ba vừa rồi, Trung Quốc đã mở lại các mỏ nickel ở Munali, mà một công ty khai thác mỏ của Úc đã bỏ vì lợi nhuận không đáng kể. Năm ngoái, đầu tư của Trung Quốc tại Zambia đạt 1,2 tỉ đô la (gần bằng một nửa tổng đầu tư nước ngoài vào đất nước này). Người ta tính rằng, cứ bỏ ra 11 triệu để đầu tư thì có thể mang lại 25.000 việc làm mới. Bất chấp những bất ổn của nền kinh tế toàn cầu trong năm qua, đầu tư của Trung Quốc ở châu Phi tăng 40% so với năm 2008 và đó chưa phải là kết quả cuối cùng, họ đang chuẩn bị các dự án tiếp theo, với tổng trị giá là 5,5 tỷ USD.

“Các công ty Trung Quốc hoạt động không chỉ ở những nơi yên ổn như Zambia . Họ xâm nhập cả vào những khu vực mà không người da trắng nào dám ló mặt tới” - Richard Dowden nói. Chẳng hạn, tại mỏ dầu hỏa ở Ogaden, nơi vẫn đang tranh chấp giữa Somalia và Ethiopia . Trong năm 2005, mấy kỹ sư Trung Quốc đã bỏ mạng ở đó. Nếu như các công nhân của hãng dầu khí Shell hay BP bị thiệt mạng thì những công ty này sẽ ngay lập tức quyết định dừng khai thác. Các công ty phương Tây không thể vì lợi nhuận mà bất chấp tính mạng của các kỹ sư của công ty mình. Trong khi đó, những nhà khai thác dầu mỏ Trung Quốc không mảy may xúc động và vài ngày sau đó họ tìm ngay những kỹ sư khác thay thế.

Không còn bất kỳ chỗ nào ở châu Phi mà không có sự hiện diện của người Trung Quốc. Trong 53 quốc gia của châu lục này, Trung Quốc đã có đại diện ngoại giao tại 49 nước, bao gồm 37 đại sứ quán, nhiều hơn cả Hoa Kỳ. Ví dụ như Gabon. Liệu có mấy ai trong chúng ta biết tới đất nước này không? Đó là một nước nhỏ ở châu Phi, nơi có sản phẩm chủ yếu là lạc (đậu phộng). Vậy mà giữa Trung Quốc và Gabon (dân số 1,5 triệu người, diện tích bằng 2/3 của Việt Nam- ND) đã có sự hợp tác khai thác dầu mỏ, mangan và gỗ. Lợi nhuận của Trung Quốc đã được chính chủ tịch Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đảm bảo trong chuyến thăm Gabon năm 2004. Đón ông chủ tịch ngay tại sân bay là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Libreville (thủ đô của Gabon ). Trong cùng năm đó, lãnh đạo độc tài của Gabon , Omar Bongo cũng tới thăm Bắc Kinh. Gabon hiện là nhà cung cấp gỗ lớn nhất của châu Phi cho Trung Quốc và là một đối tác quan trọng về dầu khí.

Mục đích sâu xa

- Ngược lại với Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, Trung Quốc đã mở một cuộc tấn công trên quy mô lớn trong lĩnh vực ngoại giao với cố gắng mua chuộc Châu Phi – Justin Szczudlik Tatar, một nhà phân tích thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Ba Lan lưu ý như vậy.

Bước phát triển trong mối quan hệ Trung-Phi là năm 2006, năm được Trung Quốc công bố là “Năm châu Phi”. Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo châu Phi được tổ chức tại Bắc Kinh. Trong những ngày đó, trên nhiều đường phố Bắc Kinh, giao thông bị cấm, các nhà máy gây ô nhiễm bị tạm đóng cửa. Thành phố treo đầy áp phích chào mừng các vị vua, vị tướng, tổng thống và thủ tướng của các nước châu Phi.

Mặc dù có những hạn sạn nhỏ, như trên một số áp phích, không phải là hình ảnh những người châu Phi mà là hình những người Papuasi với những mẩu xương đeo trên cánh mũi, Hội nghị thượng đỉnh vẫn là một thành công lớn trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo châu Phi, xếp hàng từng người một, nhích dần trên thảm đỏ để tới bắt tay hai người đàn ông thấp lùn trong bộ comple – Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo – đang đứng trong hành lang tại Đại lễ đường Nhân dân ở Quảng trường Thiên An Môn. Không còn nghi ngờ gì nữa, người ta biết, quốc gia nào mạnh nhất ở Châu Phi.

Đó là miếng bánh ngọt (2) dành cho châu Phi, mà trước đó, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu hay Liên Xô thời còn tồn tại cũng chưa bao giờ nghĩ ra. Tại Bắc Kinh, các thỏa thuận cụ thể được đưa ra, Trung Quốc sẽ gia tăng trợ giúp, đề xuất các khoản tín dụng và xóa nợ.

Tháng mười một năm ngoái, Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc-Châu Phi lại được tổ chức. Lần này tại Sharm el-Sheikh, trong khu nghỉ mát Ai Cập, quy mô nhỏ hơn, nhưng hứa hẹn nhiều hơn: 10 tỷ USD tín dụng ưu đãi dành cho các chính phủ, cộng với một tỷ cho các khoản vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, 3 tỷ để hỗ trợ các công ty tư nhân Trung Quốc hoạt động tại châu Phi. Trung Quốc cũng hứa hỗ trợ cho những khu vực kém phát triển, miễn giảm thuế, xây dựng từ 3 tới 5 trung tâm hậu cần để đào tạo khoảng 1.500 giáo viên, cấp 5.500 xuất học bổng cho học sinh, tăng số lượng các trung tâm tư vấn nông nghiệp lên 20 và xây dựng 50 trường học Hữu nghị Trung Quốc-Châu Phi.

Sự hào phóng của Trung Quốc khác xa với hoạt động từ thiện, nó bắt nguồn từ một nguyên nhân còn quan trọng hơn chuyện dầu khí hay quặng đồng. Cộng sản Bắc Kinh muốn tranh thủ sự ủng hộ của các nước châu Phi với cuộc chiến của họ trong việc thực hiện chính sách “Một Nước Trung Quốc“, theo đó Đài Loan là một phần lãnh thổ của Trung Quốc.

Trong những năm gần đây, mối quan hệ tế nhị này đã dẫn tới việc mười mấy nước châu Phi cắt đứt quan hệ với Đài Loan… Bắc Kinh đã bỏ ra hàng tỷ đô để đổi lấy các lá phiếu của các nước châu Phi tại Liên Hợp Quốc, ở Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), hoặc – gần đây nhất – tại hội nghị Thượng đỉnh bàn về khí hậu ở Copenhagen.

Mạc Việt Hồng

Dịch từ tuần báo “Polityka” Ba Lan, tháng 3/2010. Bài viết mang tên “Azja kupuje Afrykę: Nowe kolory czarnej Afryki”. Tác giả Jędrzej Winiecki viết từ Lusaka

Thursday, May 13, 2010

THẾ LÀ CHA ĐÃ RA ĐI !

Thế là Đức Tổng Giam Mục Giuse kính yêu - Ngô Quang Kiệt - đã ra đi.
Nhớ, nhớ và cảm phục lắm ! Bài từ biệt sau đây của Ngài đã nói hết với chúng ta.
Có một điều đặc biệt mà chưa mấy ai nói lên đó là: Ngài có một trí nhớ tuyệt vời.






Tuesday, May 11, 2010

BÌNH LUẬN VỀ BÀI DIỄN TỪ CỦA ĐỨC CHA NGUYỄN CHÍ LINH


Sau khi đọc Bài của Đức Cha Nguyễn Chí Linh – Phó Chủ tịch HĐGMVN trong buổi lễ hôm 7/5, tôi có một số bình luận sau đây:

1. Đây là một bài diễn từ ngắn nhưng ý lớn và sâu. Lớn là vì Ngài đã thẳng thắn đụng đến một vấn đề “không thể phủ nhận được”. Dù dân Chúa có nhiều thành phần, mức độ tiếp cận thông tin khác nhau, nhưng những ai quan tâm đều biết rằng sự bổ nhiệm là “có gây ra tranh cãi”. Cá nhân tôi đã từng có cuộc tranh luận nảy lửa về vấn đề này cách đây gần 1 tháng. Hàng ngàn tín hữu vẫn còn có vô vàn câu hỏi trong đầu cần giải thích. Sâu là vì Ngài đã nói về một vấn đề có tính xã hội dưới góc nhìn đức tin. Khi đặt nền tảng trên “mẫu số chung là lòng yêu mến giáo hội” Ngài đã hóa giải được vấn đề khác biệt về cách hành động đồng thời sự ràng buộc về chiều kích tâm linh cho phép tín hữu “hiến tế quan điểm riêng”.

2. Đây là một phát biểu xoáy đúng trọng tâm của vấn đề. Cách đây gần một tháng, cuộc tranh luận của chúng tôi cũng bắt đầu bằng việc “thông tin”. Con người bị tác động bởi thông tin và truyền thông. Chúng ta có rất nhiều ví dụ kinh hoàng trong lịch sử về việc này, giáo hội cũng như xã hội. Một lời nói dối được truyền thông có thể gây ra cả một cuộc chiến, một sự thật được truyền thông có thể đem lại hòa bình. Tự do báo chí cung cấp cho ta nhiều luồng thông tin nhưng đòi buộc chúng ta “học bài học biện phân cách bình tĩnh”. Điều này xã hội và giáo hội Việt Nam đang rất thiếu và Đức Cha đã coi sự kiện vừa rồi như một cơ hội cho tất cả những ai muốn có một cái nhìn rộng hơn, sâu hơn để ra quyết định đúng hơn.

3. Đây là một bài diễn từ có ý nghĩa lớn cho xã hội. Bài này gây bất ngờ với nhiều người, kể cả những người cấp tiến và bảo thủ, cả trong và ngoài giáo hội. Nó gợi mở những suy tư lớn lao hơn cho các vấn đề thời cuộc. Ngài đề cập đến “tất cả những ai có thiện chí với quê hương đất nước” cả “trong nước và hải ngoại” đều có thể góp sức. Dù rất kín đáo, ta thấy bài diễn từ đề cập đến những giá trị tốt đẹp của việc “tôn trọng ý kiến khác biệt”. Nó ghi nhận sự phát triển, tố giác sự độc đoán và âm thầm ủng hộ đa nguyên. Không phải suy nghĩ sâu ta cũng thấy một ý của Ngài là dù quốc gia hay cộng sản, cực đoan hay dân chủ, nếu biết đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, tất cả chúng ta có thể làm cho đất nước Việt Nam mạnh lên như mong muốn của Đức Tổng Giuse phát biểu ngày nào.

4. Dưới góc độ cá nhân, bài phát biểu này đã đem lại cho tôi Bình an và Hy vọng. Là một tín hữu đang sinh hoạt tại giáo xứ Thái Hà, tôi đã được can dự vào nhiều công việc của giáo hội và có nhiều thông tin. Thời gian gần đây tôi cảm thấy giảm sút bình an và hy vọng. Bài Phát biểu của Đức Cha đã “vượt ngưỡng” nên như một điểm sáng cao hơn thu hút được các góc nhìn khác nhau hướng về cùng một điểm. Nó làm nhẹ những náo loạn, dịu những bức xúc, tưới nước yêu thương và gây mầm lộc mới. Tôi hy vọng vì thấy điều một người bạn ngoại đạo nói cách đây 2 tuần là đúng: “Cậu yên tâm, các Ông Cha giỏi thế thì tự họ sẽ nghĩ ra cách giải quyết thôi”.

Xin chân thành cám ơn Đức Cha

BẮT TAY HY SINH MỘT THÁNH NHÂN


“Một trở ngại lớn trong mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Vatican dường như đã được gỡ bỏ với sự từ chức của một lãnh đạo hàng đầu Thiên Chúa giáo Việt Nam đồng thời là một người chỉ trích chính phủ.


Giuse Ngô Quang Kiệt là Tổng Giám mục (TGM) giáo phận Hà Nội trong 5 năm qua, coi sóc các giáo xứ thuộc giáo phận Hà Nội và các giáo xứ chiếm một phần ba miền Bắc. Giám mục (GM) Kiệt ủng hộ các cuộc thắp nến cầu nguyện kêu gọi trả lại các tài sản của giáo hội đã bị chính phủ tịch thu, đồng thời đòi hỏi tự do tôn giáo.

Chính quyền Việt Nam, vốn thường xuyên bị cáo buộc vi phạm quyền tự do tôn giáo, hy vọng có thể dập tắt tiếng nói của nhà chỉ trích về nhân quyền, đặc biệt tại Hoa Kỳ, bằng cách thiết lập đầy đủ quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh. Việt Nam, với khoảng 6 triệu giáo dân Thiên Chúa giáo, là quốc gia có dân số Thiên Chúa giáo lớn thứ nhì ở Đông Nam Á, chỉ sau Phi Luật Tân.

GM Pierre Nguyễn Văn Nhơn, 72 tuổi kế vị GM Ngô Quang Kiệt, 57 tuổi, được Vatican bổ nhiệm để trở thành đồng TGM giáo phận Hà Nội vào ngày 22 tháng Tư. Theo các quan sát viên giáo hội, việc bổ nhiệm này là một điều bất thường, bởi lẽ đồng TGM thông thường được chuẩn bị để sau cùng nắm giữ chức vị TGM. Không chỉ GM Nhơn lớn hơn GM Kiệt 15 tuổi, GM Nhơn sẽ chính thức trở thành TGM bất kỳ lúc nào.

Gậy mục tử: Cây gậy của người chăn cừu từ ngàn xưa đóng ba vai trò chính: chỗ dựa, dụng cụ, và vũ khí. Gậy còn đó, mục tử đi đâu, về đâu?

Quan hệ giữa Việt Nam cộng sản và Tòa thánh luôn có vấn đề. Hai vấn đề dai dẳng đó là việc giải quyết các tài sản của giáo hội – bắt đầu từ năm 1954 tại miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam – và việc bổ nhiệm hàng giáo phẩm.

Không giống như Trung Quốc, quốc gia đã cắt đứt quan hệ với Vatican và thiết lập giáo hội quốc doanh, Hà Nội cho phép một giáo hội Thiên Chúa giáo tồn tại dưới sự kiểm soát của Vatican. Trên thực tế, các giới chức Việt Nam giới hạn việc phong chức sắc hàng giáo phẩm và thông qua tất cả các bổ nhiệm của Vatican. Điều này dẫn đến hàng lãnh đạo của Thiên Chúa giáo Việt Nam dễ sai bảo.

Không có điều gì trong lý lịch GM Kiệt cho thấy ngài là một nhà bất đồng chính kiến. Tuy nhiên sau khi trở thành TGM Hà Nội, ngài đã khơi dậy hàng loạt cuộc thắp nến cầu nguyện với các tín hữu trung thành. Cuối năm 2007, giáo dân Thiên Chúa giáo bắt đầu tụ hợp với hàng ngàn người tại nơi trước đây là Tòa Khâm sứ của Vatican tại Hà Nội, vốn bị tịch thu vào những năm của thập kỷ 50.

Sau hàng loạt cuộc thắp nến cầu nguyện chưa từng có nhằm yêu cầu việc hoàn trả Tòa Khâm sứ, các giới chức thành phố dường như chấp thuận các yêu cầu với điều kiện là các cuộc cầu nguyện chấm dứt. Nhưng sau đó chính quyền Hà Nội thay đổi ý định này và thay vì trao trả tài sản của giáo hội, họ cho ủi sập và xây thành công viên.

Vào năm 2008, các cuộc cầu nguyện lan rộng đến giáo xứ Thái Hà tại Hà Nội, cũng về các tài sản bị tịch thu của giáo hội. Chính quyền Hà Nội đã giải tán các cuộc cầu nguyện ôn hòa và sau đó kết án 8 giáo dân Thái Hà với tội gây rối trật tự công cộng và phá hoại tài sản. Có các tin đồn rằng GM Kiệt có thể bị bắt giữ.

Báo “lề phải” đã đồng loạt công kích GM Ngô Quang Kiệt, gọi ngài là người không yêu nước và là kẻ xúi giục tạo nên các xáo trộn xã hội, và liên tục kêu gọi bãi nhiệm ngài. Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội khiển trách ngài bằng văn thư và nhiều lần chỉ trích trên phương tiện truyền thông và với các phái đoàn ngoại quốc.

Tại một cuộc họp với các nhà ngoại giao, một quan chức Hà Nội nhấn mạnh rằng, “Một số linh mục, được GM Giuse Ngô Quang Kiệt chỉ đạo, đã lợi dụng niềm tin của giáo dân và sự thiếu hiểu biết luật pháp của họ, cố ý vi phạm pháp luật và hành động trái với quyền lợi của đất nước và giáo hội".

Trong năm qua, cầu nguyện lan rộng ra các giáo xứ khác. Tại địa phận Vinh thuộc miền Bắc Trung phần, nơi có đông giáo dân Thiên Chúa giáo, nửa triệu giáo dân, theo tường trình, đã phản đối việc công an cảnh sát hành hung các giáo dân vào tháng 7 năm 2009.

Trước tình hình này, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết viếng thăm Giáo hoàng Benedict vào tháng 12 năm 2009, sau chuyến thăm lịch sử đến Vatican của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào năm 2007. Hai phía được báo chí đưa tin là đang thảo luận cho việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Sau cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Minh Triết và Giáo hoàng, GM Kiệt đi Roma với lý do chữa bệnh. Các trang mạng thuộc Thiên Chúa giáo Việt Nam tường thuật rằng Triết đòi hỏi Vatican loại bỏ GM Kiệt như là một điều kiện cho việc thiết lập mối quan hệ tốt hơn. Đòi hỏi này, nếu đúng sự thật, phù hợp với giọng điệu của các tờ báo quốc doanh.

Ngay sau khi trở về Việt Nam vào tháng Tư vừa qua, GM Kiệt thông báo rằng ngài nghỉ hưu vì “lý do sức khỏe.” Việc thoái chức của ngài, dù không bất ngờ, là một thất vọng đối với nhiều người Việt Nam – Thiên Chúa giáo hoặc không Thiên Chúa giáo, vốn cảm phục sự lãnh đạo can đảm của ngài. Có một vài thỉnh cầu trên mạng đã được thiết lập nhằm kêu gọi Giáo hoàng Benedict giữ GM Kiệt trong chức vị TGM Hà Nội.

Cộng đồng Thiên chúa giáo Việt Nam tại hải ngoại là một nguồn đóng góp tài chính quan trọng cho giáo hội tại Việt Nam. Họ cũng là trong số những nhóm có tiếng nói mạnh mẽ vận động chính phủ và quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” vì các vi phạm các quyền tự do tôn giáo.

Tại Việt Nam, các blogger tuyên dương “Tinh thần Ngô Quang Kiệt”, đồng thời so sánh ngài với các thánh tử đạo tiên phong của giáo hội Việt Nam. Lê Quốc Quân, một luật sư nhân quyền, viết rằng không thể có một giáo hội hiệp nhất nếu không có tiếng nói của các tín hữu trung thành. Ông Quân nhận định rằng người Thiên Chúa giáo tại Việt Nam đã biểu lộ sức mạnh của họ và đang thay đổi giáo hội từ hạ tầng đi lên.

Nếu Giáo hoàng Benedict có cuộc viếng thăm trọng đại đến Việt Nam, như Giáo hoàng John Paul đã từng đến Cuba, ngài sẽ gặp gỡ những tín đồ trung thành được Ngô Quang Kiệt – một lãnh đạo tôn giáo theo khuôn mẫu của John Paul II– truyền cảm hứng.

(*) Tựa bài do dcctvn.net đặt

Bản dịch của Nguyễn Hùng Kiệt

Nguồn: http://chuacuuthe.com

Bài tiếng Anh: http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/LE07Ae02.html

NHÂN SỰ CHÍNH QUYỀN VÀ GIÁO HỘI VIỆT NAM


NHÂN SỰ CÔNG GIÁO VẦ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM

Luật sư. Lê Quốc Quân

Vào lúc Đảng cộng sản gồng mình chạy đua cơ cấu chức vụ trong Đại hội XI đang đến, thì Gíao hội Công giáo Việt Nam cũng đang căng mình trước những diễn biến dồn dập về nhân sự.

Khác với Trung Quốc là nơi các thế hệ lãnh đạo thường được đào tạo và quy hoạch trước khá lâu giống như truyền thống lập thái tử.

Việt Nam đứng trước một cuộc khủng hoảng dai dẳng về lãnh đạo và luôn có những cuộc đua gay cấn đến tận phút chót.

Hiện đang có cùng cảnh ngộ giữa Giáo hội Công giáo và Chính quyền Việt Nam trong vấn đề nhân sự.

Thông thường giáo hội luôn có sự kế tục cẩn thận nhưng vì bị đóng cửa trường Dòng hơn 20 năm nên Giáo hội đang có độ “hẫng” nhất định.

Khác với Giáo Hội Trung Quốc là nơi chính quyền quyết định vấn đề nhân sự không liên quan đến Vatican.

Ở Việt Nam, sau một thời gian dài đàm phán, hai bên đã hình thành được một "cơ chế đặc biệt" là Giáo Hội lựa chọn và bổ nhiệm nhưng phải có sự đồng ý của chính quyền.

Cơ cấu vùng miền ?

Về mặt chính quyền, miền Bắc thường nắm chức Tổng bí thư và Chủ tịch Quốc hội, miền Trung Chủ tịch nước và miền Nam làm Thủ tướng.

Tuy nhiên trong nhiệm kỳ hiện tại, có cuộc "mặc cả vĩ đại" giữa phái miền Nam và phái Thanh Nghệ để cho người xứ Nghệ hai vị trí quan trọng trong Bộ Chính trị trong khi miền Nam giữ cả Chủ tịch nước và Thủ tướng.

Một trong những người Nghệ nắm giữ vị trí quan trọng nhất nhưng lại ít xuất hiện nhất là Trưởng ban Tổ chức Trung ương - Hồ Đức Việt, người thay ông Phạm Quang Nghị làm Bí thư Trung ương từ tháng 8 năm 2006.

Không chỉ thắng lớn ở mặt Nhà nước, ngày 22 tháng 4 vừa qua, Tòa Thánh đã bổ nhiệm Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn 72 tuổi là người gốc miền Nam làm Tổng Giám mục Phó Hà Nội với quyền kế vị, được cho rằng sẽ thay thế Đức Tổng Gíam Mục Ngô Quang Kiệt ở độ tuổi 58 xin từ chức vì "lý do sức khỏe".

Có tin cho rằng chính quyền liên tục vận động với Tòa Thánh để những vị giám mục người Miền Nam, vốn "hiền lành" và có mặc cảm của kẻ chiến bại, tiếp tục có những vị trí cao hơn trong Giáo Hội.

Ngày 7/5 vừa qua tại Hà Nội đã có một buổi lễ đón chào Tân Tổng Gíam mục Phó với nhiều hoạt cảnh vui buồn lẫn lộn.

Có tin nói rằng Dòng Tu Châu Sơn ở Ninh Bình đã dành một tòa nhà để Đức Cha Kiệt dưỡng bệnh ngay cạnh tòa nhà đã đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ông mời Đức Cha Lê Hữu Từ lên làm cố vấn Chính phủ vào năm 1945.

Quan hệ giữa Việt Nam và Vatican hết sức phức tạp trong hàng trăm năm qua và hai bên đã không có quan hệ ngoại giao hơn nửa thế kỷ.

Năm nay, kỷ niệm 15 năm Bình thường Hóa Quan hệ với Washington, Hà Nội cũng muốn in dấu chân mình tại thành Rome, mở đường cho Đức Giáo Hoàng thăm Việt Nm vào năm 2011 sau khi cả Thủ tướng và Chủ tịch nước Việt Nam đã yết kiến Ngài tại Rome vào năm 2007 và 2009.

Mỹ là một đất nước chính trị thực dụng sẵn sàng bỏ qua các dị biệt để thăng hoa quan hệ ngay lập tức nếu thấy cần thiết.

Thế nhưng Vatican là một quốc gia tinh thần nên điều mà họ hướng tới là bang giao có thực sự đem lại sự thăng tiến chung cho các giáo hữu hay không.

Do vậy, hơn 20 năm đàm phán để hướng tới việc bình thường hóa còn ngổn ngang nhiều vấn đề mà các bên đều tính toán kỹ, bao gồm cả “hy sinh” và “cất nhắc” một vài người.

Lần ra quyết định này có vẻ vội vàng, khác hẳn với truyền thống “chậm như Rome – Lent de Rome” càng để lại trong lòng người nhiều thắc mắc, suy tư.

Ai ghi điểm?

Trong cơ chế của Nhà nước, thông thường một vị ủy viên Bộ Chính trị có thể bảo lãnh và “đôn” được một bộ trưởng, còn một ủy viên trung ương đảng được quyền giới thiệu một thứ trưởng.

Từ đó trong cơ cấu quyền lực của Nhà nước hình thành vô số đường dây và “rễ, chuỗi”.

Trong Giáo hội, các Đức Ông làm việc tại Bộ Ngoại Giao thường là người cố vấn cho Đức Giáo Hoàng trong việc sắp xếp nhân sự với sự tham vấn của giáo quyền địa phương.

Lần này một quan chức quan trọng của Vatican là Đức Ông Francis Cao Minh Dung, được cho là có vai trò quyết định.

Nếu Đức Tổng Kiệt ra đi, việc bình thường hóa với Vatican có thể xảy ra và Đức Ông Dung có thể sẽ trở thành vị trí Sứ Thần đầu tiên tại Việt Nam.

Việc Giám mục Kiệt ra đi còn ghi điểm cho ông Phạm Quang Nghị vì nó khẳng định rằng việc làm của chính quyền Hà Nội là đúng.

Một cuộc chơi mới

Bề ngoài có vẻ như Chính quyền đang thắng thế và can thiệp càng sâu hơn vào Giáo hội nhưng giáo dân Công giáo Việt Nam cũng đã tiến thêm một bước.

Các buổi cầu nguyện cho công lý, đượm màu thánh thiêng, xuất phát từ dưới lên, không còn đơn thuần là vấn đề tôn giáo mà đang được xem như là một phản kháng dân sự.

Truyền thông Công giáo và dân báo đã khẳng định vị trí của mình.

Nhiều mục tử đã dấn thân mạnh mẽ hơn vào các vấn đề xã hội ngày càng sâu rộng.

Các con chiên có vẻ đã biết kết hợp tạo thành các tổ chức xã hội dân sự như giới doanh nhân, tri thức, công chức, sinh viên Công giáo vào thời điểm có tin rằng đảng Cộng sản sẽ phải thu mình lại, nhường chỗ cho sự lớn lên của xã hội dân sự, biến từ con hổ thành chú mèo vào thời điểm Canh Dần bước sang Tân Mão.

Buổi lễ đón Đức Cha Nhơn đầy huyên náo hôm nào là chỉ dấu cho thấy giáo dân mạnh dạn hơn trong việc cất lên tiếng nói đối với các vị chủ chăn của mình.

Và khi cả Vatican mà giáo dân còn không sợ thì không một chính quyền nào có thể “bịt miệng” họ lại.

Mặc dù chỉ chiếm hơn 10% dân số nhưng người Công giáo là một khối.

Đó là vũ khí tốt trong nền chính trị hiện đại và ai đang sở hữu kho vũ khí chiến lược kiểu này sẽ có cơ hội thắng thế trong Chính Quyền và Giáo quyền tương lai tại Việt nam.

Hà Nội những ngày đầy “mưa phùn”

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/05/100510_vn_catholicism_state.shtml

Tuesday, April 27, 2010

TINH THẦN NGÔ QUANG KIỆT VÀ SỰ CANH TÂN GIÁO HỘI



Hồ Học – Trần Trung Luận


Việc triển khai nghị quyết “trong năm 2010 bằng mọi giá phải đẩy được Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội” khởi sự ngay sau sự kiện Toà Khâm Sứ nổ ra, với sự phối kết hợp của nhiều cấp, nhiều ngành mà thường trực cho nghị quyết này là ngành an ninh.


Một loạt các biện pháp mạnh, trực diện đã được tung ra, đúng là “bằng mọi giá” như: huy động cả hệ thống truyền thông nhà nước vào cuộc vu khống, bôi nhọ đe doạ Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và linh mục, giáo dân Hà Nội.


Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, công khai tổ chức họp báo quốc tế để thể hiện ý đồ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dẫn đầu phái đoàn cấp cao sang tận Vatican yết kiến Giáo hoàng để thương lượng, tìm hậu thuẫn, tác động từ trên cao… Rồi Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành uỷ Hà Nội, xua cả ngàn quân cảnh với “súng ống giáp trụ” trang bị tận răng, đập nát cây Thánh giá bê tông tận trong núi thờ Đồng Chiêm, đánh đổ máu giáo dân ngay dưới chân Thánh giá… cũng chỉ để “Bẫy” cho được Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt vào những sai lầm cụ thể để dễ bề thanh toán ông.


Đây là cách xử lý thường thấy của lãnh đạo “cộng sản” Việt Nam trong khi phải đối diện với mâu thuẫn, đó là “đánh rắn dập đầu”, ở đây là đánh thẳng vào trung tâm cuộc phản kháng vì “công lý, sự thật” của giáo dân Hà Nội kéo dài hai năm qua với các sự kiện lớn như Toà Khâm sứ, Thái Hà, Tam Toà, Loan Lý, Đồng Chiêm… “trung tâm” chính là “Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt”.



Với bản chất cố hữu, với não trạng xơ cứng, thiển cận, “lãnh đạo cộng sản” không đủ nhận thức để nhận ra rằng: khát vọng “công lý, sự thật” là hệ quả tất yếu, là sản phẩm của một xã hội đầy bất công và dối trá mà họ đang ngự trị. Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt chỉ là một lãnh đạo tôn giáo thuần tuý, thực thi những trách nhiệm thuộc tôn giáo của mình. Cá nhân ông tồn tại trong “không gian tôn giáo”, không lệ thuộc vào chính trị nên đẩy ông ra khỏi Hà Nội theo những cách đầy “chính trị” như lãnh đạo cộng sản đã làm nhằm dập tắt “tinh thần Ngô Quang Kiệt” trong giáo dân là không đem lại kết quả… cùng lắm chỉ là chuyến “dưỡng bệnh” tại Vatican với những cố gắng “thay người” hay “thêm người” là đã diễn ra mà thôi.



Trái lại lúc này đây, khi mà quyết định của Toà Thánh Vatican bổ nhiệm thêm TGM Phó cho Tổng Giáo Phận Hà Nội được công bố chính thức, “tinh thần Ngô Quang Kiệt” bỗng bừng dậy trong lòng giáo dân Hà Nội đến ngay cả tác giả “nghị quyết” cũng không thể ngờ được. Linh mục Phạm Minh Triệu nói “Nhiều giáo dân đã gọi điện tới và khóc”.



Một cán bộ cộng sản cấp cao đã phải thốt lên “thà cứ để nguyên ông Kiệt ở mức dưỡng bệnh có khi còn hơn”.


Cũng phải nói lại và nói thêm một chút là thật ra cá nhân vị Tổng Giám Mục này không có gì là nguy hiểm. Ông sống “tốt đời đẹp đạo” các hoạt động của ông hoàn toàn mang dáng dấp của một nhà “tu hành đạo hạnh” hơn là “thủ lĩnh”. Thế nhưng “tình yêu thương” “đức công chính” trong con người “tu hành đạo hạnh” ấy là “THẬT” nên bỗng trở thành “tinh thần Ngô Quang Kiệt” với kết tinh là “công lý, sự thật, hoà bình” trong cái xã hội ngập tràn bất công dối trá này, bất cứ ai là nạn nhân đều tựa vào, hướng đến…

Giáo dân thắp nến cầu nguyện đòi “công lý sự thật” trên đất đai của tiên tổ bị cướp, bán vào tay “tư bản đỏ” là chủ chăn, ông lên tiếng bênh vực chở che… Giáo dân bị bắt bớ, đánh đập oan uổng, với “tình yêu thương” ông tới thăm động viên… Biểu tượng Thánh giá bị xúc phạm, là tín hữu ông tức tốc có mặt cùng chịu nạn… là người “công chính” ông lớn tiếng giữa UBND Hà Nội “tôn giáo là quyền chứ không phải ơn huệ xin cho” Một người không Công Giáo nào đó khi được tiếp xúc với ông đã phải thốt lên rằng “không có gì đao to búa lớn hay bí hiểm ở con người này”.



Như thế thì việc phải rời khỏi sứ vụ không ảnh hưởng đến sự tận hiến cho Giáo Hội của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, và sự thăng tiến phẩm hạnh của riêng ông, người ta đều hiểu tâm tình, lựa chọn của ông trong lúc này là ”tín thác” và “xin vâng”. Nghĩa là để trả thù cho đựoc cá nhân ông, giới lãnh đạo cộng sản cũng đã phải trả những cái giá rất đắt, mà tinh thần “Ngô Quang Kiệt” vẫn cứ sống và cháy lan ra trong từng trái tim của giáo dân Hà Nội.


Nhưng ác nghiệt thay sự ra đi của ông lại là việc thực hiện nghị quyết của Đảng Cộng Sản ”trong năm 2010 bằng mọi giá phải đưa được Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội”. Là “thắng lợi” lớn của một thế lực chính trị thân Trung Quốc trong giới “lãnh đạo cộng sản” đang lồng lộn trong cuộc tranh cướp quyền lực (sẵn sàng tung ra những đòn giang hồ hạ đẳng nhất như: ly gián, chia rẽ, mua chuộc, lật lọng)…



Đau đớn hơn là những tiếng kêu thét đòi ”công lý sự thật” của giáo dân, tài sản giáo hội bị chính quyền “tư bản đỏ” cưỡng đoạt, Giáo Hội bị thế quyền khinh miệt chèn ép, những cây Thánh giá thiêng liêng tiếp tục bị đốn hạ, những “tượng Đức Mẹ” tiếp tục bị bắt giữ, hàng loạt những linh mục có “tinh thần Ngô Quang Kiệt” sẽ lại ra đi… không ai biết sẽ có bao nhiêu phiên toà xử giáo dân sẽ được tổ chức để chào mừng Đại Hội Đảng toàn quốc…


Và nếu đúng là như thế thì điều mà những người ngoài công giáo cho là thảm hoạ có thể sẽ là : Khối Công giáo tại Việt Nam đang trên đường hợp nhất sẽ ra sao? Qua hệ thống truyền thông mạng Công Giáo chúng ta dễ dàng nhận thấy sự phân mảnh vốn tiềm ẩn nay đã xuất hiện. Sự phân biệt giữa hai miền Nam Bắc, sự phân hoá về nhận thức giữa các hàng giáo phẩm, linh mục…



Nguy hiểm hơn cả là sự phân hoá giữa con chiên và chủ chăn… Thiên chúa Giáo miền bắc Việt nam nguy cơ có thể chỉ còn là một tín ngưỡng “công giáo” tại gia khi “Giáo Hôi duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền” đang rạn nứt nhiều nguy cơ đổ bể. Sự hình thành Anh Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành… trong lịch sử nhân loại cũng được bắt đầu trong những hoàn cảnh như thế này đây.



Rõ ràng đau đớn, mất mát nhất là khối Công Giáo Việt Nam với gần 500 năm đầu rơi máu chẩy để có “Giáo Hôi duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền”… Và sung sướng nhất , thụ hưởng nhiều nhất là những chủ nhân ông của nghị quyết “trong năm 2010 bằng mọi giá phải đẩy được Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội”.

Vẫn biết quyết định của toà thánh Vatican là tối hậu nhưng để cho nó thành hiện thực thì không thể không có Giáo Hội Công Giáo Việt Nam gồm giáo dân, chủ chăn (cả những phẩm hàm cao nhất).



Chúng ta đã thấy những cố gắng… đến hết lòng của những nhười công giáo chân chính, tiến bộ: một thỉnh nguyện thư chăng, một cuộc biểu lộ tình cảm vĩ đại chăng… tới Giáo Hoàng, tới tất cả những Giáo Hội Công Giáo có trên thế gian này… và tới cả tân Phó tổng giám mục Hà Nội, để “tinh thần Ngô Quang Kiệt” là sức sống, là niềm tự hào của toàn Tổng giáo phận Hà Nội…



Cuộc canh tân giáo hội đã bắt đầu từ những giáo dân.

Saturday, April 24, 2010

THƯ NGỎ CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Cha Pascal Nguyễn Ngọc Tĩnh - Người đã giới thiệu Phụ lục 3 này trong Bài Viết "Em Người Đâu"

THƯ NGỎ CỦA CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAM –NĂM 2002

Kính gửi: Quý vị lãnh đạo các cơ quan lập pháp của Nhà nước Việt Nam:

Quốc hội và các Hội đồng Nhân dân

“Phục vụ con người là mục đích tối cao” của mọi tổ chức và cơ chế xã hội (xem Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI), vì lẽ con người là mục đích, là cứu cánh, là trọng tâm của mọi hoạt động văn hóa, kinh tế, xã hội. Từ chân lý căn bản này về con người với nhân phẩm và nhân quyền của họ, nảy sinh những nhu cầu, những đòi hỏi bức thiết phải đáp ứng để xây dựng và phát triển một xã hội nhân bản, một xã hội không làm què quặt và hủy hoại con người. Những đòi hỏi bức thiết đó là:

I- Xóa giảm những khuyết tật hiện hữu của xã hội;

II- Phát huy những giá trị nhân bản làm cho con người ngày càng trở nên người hơn, sống xứng với phẩm giá của mình hơn.

I. XÓA GIẢM NHỮNG KHUYẾT TẬT HIỆN HỮU CỦA XÃ HỘI

1. Khuyết tật thứ nhất là hiện tượng tha hóa con người.

Sự tha hóa con người xuất hiện và lớn dần trong xã hội hiện nay:

- khi chủ nghĩa tiêu thụ đưa đẩy con người vào trong một mạng lưới những thỏa mãn hời hợt, giả dối;

- khi lao động được tổ chức nhằm bảo đảm tối đa cho lợi nhuận mà không lưu tâm cải thiện đời sống và thăng tiến phẩm giá người lao động;

- khi diễn ra sự đảo ngược giữa phương tiện và mục đích: con người vốn là mục đích của sự phát triển thì lại bị biến thành đơn thuần là phương tiện sản xuất;

- khi tự do được coi như là quyền được làm bất cứ điều gì mình thích, bất cứ điều gì mà cảm tính của mình cho là có lợi trước mắt cho bản thân, cho phe phái, đang khi tự do đích thực là quyền làm những gì mà lương tâm thấy được phép làm vì công ích, vì lợi ích của thế hệ hiện tại và mai sau. Thực tế cuộc sống hiện tại cho thấy: khi tách lìa chân lý về con người với nhân phẩm và nhân quyền của họ, tự do trở thành sự tùy tiện hoặc ngẫu hứng của những kẻ có quyền thế.

2. Khuyết tật thứ hai là cơ chế bất công và tha hóa con người.

Cơ chế xin-cho là một điển hình. Cơ chế xin-cho là một cơ chế bất công và tha hóa con người vì những lý do sau đây:

- Cơ chế xin-cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền mà Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân dưới dạng những cái phép, đồng thời biến Nhà Nước từ một tổ chức có chức năng phục vụ công ích trở thành một chủ nhân ông nắm các quyền tự do của người dân và ban phát các phép tự do lại cho họ thường theo sự tùy tiện chủ quan hơn là theo những tiêu chuẩn khách quan. Như thế cơ chế xin-cho vừa đi ngược lại công ích và xóa đi các quyền tự do của người dân, vừa bôi đen hình ảnh của một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân. Đó là điều làm tha hóa con người.

- Theo thông tin của báo chí, cơ chế xin-cho còn là nguyên nhân làm thất thoát 50% các nguồn thu vào công quỹ, và làm thất thoát 50% phần còn lại khi phải chi ra cho công ích. Điều này có nghĩa là 5% hoặc 7% dân số là những người có thế lực và quyền lực thì hưởng 75% từ công quỹ quốc gia (trong con số 75%, có 50.000 tỷ đồng/năm của riêng ngành xây dựng), phần còn lại của dân số là hơn 70 triệu dân chỉ hưởng được 25%. Thực tế này tạo ra một tình trạng bất công trầm trọng trong xã hội và không ngừng làm gia tăng hố sâu cách biệt giàu nghèo trong lòng một dân tộc. Chính vì thế mà tham nhũng một cách có hệ thống quy mô trong xã hội ngày nay không những là một quốc nạn, song còn là một tội ác đối với đất nước và dân tộc.

II. PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN BẢN LÀM CHO CON NGƯỜI NGÀY CÀNG TRỞ NÊN NGƯỜI HƠN, SỐNG XỨNG VỚI PHẨM GIÁ CỦA MÌNH HƠN

1. Phát huy phẩm giá con người. Điều này đòi hỏi trong các quan hệ xã hội phải quan tâm tôn trọng con người như là trọng tâm của mọi hoạt động văn hóa, kinh tế, xã hội, nghĩa là các sinh hoạt văn hóa, kinh tế, xã hội phải hướng đến sự phát triển và thăng tiến con người toàn diện cả mọi mặt vật chất, tinh thần và tâm linh. Khi một trong ba mặt thiếu phát triển, con người trở nên hụt hẫng, què quặt, dị tật.

2. Phát triển xã hội và thăng tiến con người trên nền tảng chân lý. Một xã hội được coi là có trật tự và phù hợp với nhân phẩm khi đặt nền tảng trên chân lý. Chân lý căn bản trong quan hệ giữa người với người là mọi người đều bình đẳng về nhân phẩm. Chân lý này đòi hỏi phải gạt bỏ mọi kỳ thị và phân biệt đối xử, phải xóa đi những hình thức chuyên chế, phải loại trừ mọi gian dối xảo trá ngày nay đang tràn lan trong mọi lãnh vực của cuộc sống con người và xã hội.

3. Phát huy tình liên đới trong mọi sinh hoạt gia đình và xã hội. Tình liên đới chỉ được xây dựng và phát huy vững bền trên nền tảng tôn trọng con người, tôn trọng các quyền của họ, tôn trọng sự tự lập chính đáng và quyền tự quyết của con người, tôn trọng các giá trị đạo đức trong truyền thống văn hóa. Tình liên đới đòi hỏi phải nhìn xa hơn bản thân của tổ chức, của phe phái để phục vụ cho sự phát triển của xã hội, cho sự thăng tiến của con người vàgia đình.

4. Phát huy tính phụ đới. Tình liên đới trong sự tôn trọng các quyền tự do của con người đòi hỏi tổ chức xã hội phải mang tính phụ đới. Tính phụ đới là một đặc tính của tổ chức xã hội trong đó một tập thể cấp cao không can thiệp vào nội bộ của một tập thể cấp thấp, không làm mất thẩm quyền và tính tự lập của nó, song tạo điều kiện giúp nó phối hợp hoạt động của mình với những hoạt động của tập thể khác nhằm mưu cầu công ích. Do đó, con đường phát huy tính phụ đới đòi hỏi:

Chính quyền tạo điều kiện cho các cá nhân và tập thể công dân sử dụngcác quyền của con người. Trong các quyền đó, phải kể đến quyền bình đẳng, quyền và bổn phận chu cấp cho các nhu cầu vật chất, tinh thần và tâm linh của cuộc sống con người, gia đình và tập thể, quyền sáng kiến và tham gia các hoạt động phát triển xã hội, thăng tiến con người và gia đình, cả việc củng cố nền tảng pháp lý của cộng đoàn chính trị trong một quốc gia.

Dành cho mình độc quyền hay một quyền hành quá lớn trong các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội, đó là con đường dẫn đến chuyên chế và độc tài, quan liêu và bao cấp, áp bức và bất công, là những tệ nạn làm tha hóa con người.

Tính phụ đới theo nghĩa trên là nền tảng để xây dựng một xã hội dân chủ, một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân. Thiếu nền tảng này, Nhà Nước với chức năng phục vụ công ích trở thành một cỗ máy thống trị độc tài, và nhân dân từ địa vị làm chủ đất nước trở thành phương thế phục vụ cho cỗ máy đó. Đó là điều làm tha hóa con người và phân hóa xã hội.

5. Phát huy ý thức và thiện chí phục vụ công ích. Trước hết công ích đòi hỏi phải tôn trọng con người, tôn trọng nhân phẩm và các quyền tự do của họ. Do đó, chức năng phục vụ cho công ích đòi buộc chính quyền:

(1) tạo điều kiện bảo đảm cho mọi công dân hưởng những nhu yếu sao cho xứng hợp với phẩm giá con người;

(2) xóa bỏ những luật lệ bất công và những biện pháp trái với luân thường đạo lý trong truyền thống văn hóa của dân tộc, vì lẽ đây là những cơ chế và biện pháp làm tha hóa con người. Cơ chế xin-cho là một điển hình về luật lệ bất công. Phá thai hằng năm hơn cả triệu trường hợp là một điển hình về biện pháp trái với luân thường đạo lý mà những hậu quả đã và đang diễn ra không biết đưa tương lai dân tộc đi về đâu.

Kính thưa Quý Vị,

Là những người yêu mến quê hương, ai trong chúng ta cũng mong muốn xây dựng Việt Nam thành một đất nước giàu đẹp, văn minh, giàu tính nhân bản. Chính trong tinh thần đó, chúng tôi xin gửi đến Quý Vị thư ngỏ này.

Kính chúc Quý Vị luôn an lành, mạnh khoẻ và thành đạt.

Trân trọng kính chào.

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

Friday, April 23, 2010

LỘN XỘN Ở QUỐC GIỖ HÙNG VƯƠNG


Hôm nay là ngày 10/3 Âm Lich, ngày giỗ tổ Hùng Vương. Một Lễ Quốc giỗ mà có những điểm chính mắt thấy được sau đây thì thật là đau lòng, Đây có thể được coi là một bi kịch văn hóa chỉ có ở thời kỳ dị giáo và loạn thần hậu Cộng sản Nguyên Thủy ở Việt Nam như bây giờ:

Điều đập vào mắt đầu tiên của phần Nghi Lễ quan trọng nhất là một đám người đứng lộn xộn phía trước đền chính, không hề có thứ tự, hàng lối và trang phục. Chủ Lễ diện com lê. Phần lớn đội đầu trần, một số khác mặc áo nâu, đội khăn xếp không hiểu là loại lễ phục gì đứng lung tung. Rải rác trong đám đông ngay trước khi dân hương còn đội mũ quân đội, mũ vải, mũ chìa…

Ngay trên hàng đầu cong queo là Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Đức Kiên, Nguyễn Thiện Nhân và một số quan chức khác, người thì chắp tay, người thì để tay thẳng đứng kiểu chào cờ, người thì đan tay trước bụng. Mặt Thiện Nhân trông như bị thần kinh cứ nhướn mắt, giật lông mày. Một nhân vật đứng thập thò phía sau cứ ghé sát tai Triết thì thầm như có việc gì. Những gương mặt kỳ dị, trông đau khổ và cau có. Cảnh tượng thật là bi hài, lố nhố hết sức;

Sau đó đoàn đứng bên trên được mời vào dâng hương. Nhóm Nguyễn Minh Triết (6 người) đi vào đứng trước điện thì được giao cho mỗi người 3 que hương. Sau khi giao xong thì một ông khác đến đứng ra thu lại hết ngay trên tay ông Triết, Kiên, Nhân, Thọ. Các ông này đứng ngẩn tò te một lúc, vẻ mặt trông lại càng đau khổ tợn

Sau đó thì có các em đưa hoa vào, mỗi trao cho mỗi người một bó hoa huệ. Khổ cái là hoa huệ lại bọc giấy bóng kính sáng phía sau như kiểu đi mừng sinh nhật. Các “đồng chí” cắm hoa vào thì bình hoa nhỏ mà bó hoa to nên nó đổ kềnh xuống. Tội Đồng chí Thiện Nhân phải dựng dậy mà nó vẫn nằm oặt ra. Sau khi cắm hoa xong thì các “đồng chí” mới được đưa hương cho và vái.

Màn vái hương thật vô cùng hài hước, người thì vái đứng chỉ hơi cúi đầu, kẻ thì gập mình thật sâu, khi kẻ này lên thì người kia xuống, lỗ đỗ như đâm gạo, lộn xộn vô cùng, có kẻ dừng người kia vẫn vái. Nhìn mặt quan chức nào cũng thấy tội nghiệp vì thiếu hiểu biết về nghi lễ, có người còn đội nguyên cả mũ nón quân phục đứng vái.

Sau phần vái là rót rươu. Rượu đựng ở trong 2 loại chai khác nhau, một vỏ chai nhựa Lavie, một bình cổ kiểu Trung Hoa rất đẹp. Bụp một cái, Triết rót đầy gần đầy 3 ly, khổ cho Thiện Nhân rót sau rón rén mãi đến đầy, Sau Nhân là đến ông Bí thư tỉnh ủy Phú Thọ, gắng mãi để thêm 1 giọt…cứ như vậy người đến sau chỉ làm giả bộ rót rượu vào nhưng vì cũng phải cố thêm 1 giọt nên nó tràn ra cả.

Hết màn rót rượu đám người lộn xộn lại kéo nhau ra sân. Trong khi các đồng chí khác vẫn tiếp tiếp tục vào thắp hương, đổ tràn rượu ra. Có kẻ hắt rượu đi để tiếp rượu vua Hùng. Trong khi các quan chức ở trong điện vẫn đang vái thì phía ngoài Chủ tịch nước đã đọc diễn văn.

Bài diễn văn của Triết Ngắn nhưng không quên nhắc đến công ơn ghê rợn của Đảng cộng sản. Vừa đọc Chủ tế vừa bạnh hàm bặm môi, kiểu như muốn dồn toàn bộ tức giận vào bài đọc. Ngài không quên nhắc Hồ Chí Minh nhiều lần và Đại Hội Đảng sắp đến.

Sau đó là phần báo cáo chính của Quan chức - Thứ trưởng Lê Tiến Thọ. Vì là nghệ sỹ sân khấu, Chàng đóng luôn làm diễn viên, đeo một cặp kính đen của thầy bói bắt đầu cẩn báo với các Vua Hùng. Đầu tiên chàng ca ngợi hôm nay: “Cờ đỏ sao vàng, thênh thang thánh điện” và báo cáo thành tích chiến nhau của Việt Nam. Kể từ thời Mẹ Âu Cơ đến nay. Suốt cả một bài dài đều ca ngợi tinh thần tẩn nhau của dân Việt với Trung Quốc và đỉnh cao là: “Đảng cộng sản như ánh Chiêu Dương lãnh đạo nhân dân đánh cho Mỹ cút – ngụy nhào”. Đọc cáo thư văn cổ mà giọng đọc gồng lên đanh thép như tiếng hô xung phong. Vua Hùng nghe xong chắc khiếp vía vì con cháu thật là gấu.

Bi hài nhất là đến đoạn cuối : “Nay gặp buổi”…..(lời văn cổ) không biết chuyển ý thế nào thành: “Nay gặp buổi Đảng ta đổi mới tư duy…” Nghe hết sức dở người. Bài đọc lẫn lộn giữa văn cổ và văn mới, từ dùng thì vừa hiện đại lại vừa mông lung, thô thiển nhưng lại mịt mù khó hiểu. Đám đông đứng nghe thì lộn xộn, quay ngang quay ngửa, có một phụ nữ có vẻ ra dáng tổng quản mama, hằm hằm quan sát.

Còn nhiều điều vô lý và nực cười khác nữa mà không thể nêu ra đây. Nói chung cả một chương trình tường thuật về Lễ hội Vua Hùng thể hiện rất rõ sự tột cùng băng hoại văn hóa và các nghi thức Nhà nước. Sau gần 50 năm “phá đền chùa làm kho hợp tác xã” Bây giờ bắt đầu một thời kỳ nhố nhăng khác, các nghệ sỹ cãi nhau về kịch bản, đạo diễn và tiền cát sê đến mức bỏ luôn việc lo Quốc giỗ, Chủ tế không biết cách làm sao cho đúng lễ, Quân sư quạt mo thì lợi dụng để đánh nhau, dùng thần thánh để lòe nhau, vừa huyênh hoang vô thần lại vừa sợ thánh vật.

Đây chính là hệ lụy văn hóa đau đớn mà con cháu Vua Hùng hôm nay phải gánh chịu.

Copy từ nhận xét của Lê Nguyễn Thái Hà