Ngày 25/5 này anh Bùi Tuấn Lâm (Peter Lâm Bùi), hay còn được biết đến là Thánh rắc hành, sẽ bị đem ra xét xử sơ thẩm tại toà án thành phố Đà Nẵng.
Monday, June 05, 2023
PETER LÂM BÙI - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CON NGƯỜI VÀ CÁO BUỘC
NỀN KINH TẾ BÊN KIA SƯỜN DỐC
Như một cơ thể đang lớn, kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng cao trong hơn 20 năm qua, nhưng giờ đây, không gian phát triển đang bị thu hẹp dần và đang trườn dần về phía bên kia sườn dốc.
Năm ngoái là năm tăng trưởng cao nhất trong 12 năm khi GDP chính thức công bố là 8,02%. Nhiều người nghi ngờ con số này nhưng không một ai có thể đủ năng lực kiểm chứng.
Được tiếp sức bằng báo cáo kiểu “bốc thuốc” đó của Tổng cục thống kê, quốc hội đã rất lạc quan đặt mục tiêu tăng trưởng cho năm 2023 là 6,5% và lạm phát là 4,5% mặc dù những di chứng của đại dịch đang bắt đầu âm thầm phát tác.
Sau 5 tháng thực hiện, dựa vào một số báo cáo và phát biểu của quan chức chuyên ngành cùng với cảm nhận thực tế, chúng ta thấy kinh tế Việt Nam đang vô cùng ảm đạm và năm 2023 dự báo sẽ dần thoái trào.
“Tài sản toàn dân” đang về tay ngoại quốc.
Ngày 9/5/2023 vừa qua, trong phiên thảo luận về kinh tế xã hội của Uỷ ban thường vụ quốc hội, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT đã nói rằng: “Nhiều doanh nghiệp lớn đã phải bán gần hết tài sản của mình” và theo ông Dũng thì bán chỉ được bằng 50% giá trị và khách mua toàn là người nước ngoài.
Nhìn vào danh sách những thương vụ M&A (Mua bán & Sáp nhập) lớn nhất của năm 2021-2022 ta thấy hết các hoạt động được tiến hành là ở lĩnh vực ngân hàng, bất động sản và bán lẻ. Trong đó có nhiều vụ chuyển nhượng bất động sản cho nhà đầu tư nước ngoài như: dự án Ngân Hà đã chuyển cho Gamuda Land của Malaysia, Novaland nhận được đầu tư từ quỹ Warburg Pincus …
CapitaLand Group cũng đang đàm phán với Vinhomes JSC để mua một dự án ở phía bắc thành phố Hải Phòng. Giá trị của thương vụ ước tính lên tới 1,5 tỉ USD có thể sẽ được “đốt” ở một nước không phải Việt Nam.
Chúng ta đã từng nghe nói về việc người Trung Quốc mua những vị trí đất đẹp ở Phú Quốc, Đà Nẵng và Quảng Ninh nhưng chưa bao giờ được biết đến một con số công khai.
Điều đáng lưu ý là vào giữa tháng 4 vừa qua, Việt Nam đã đạt 100 triệu người và mật độ dân số trên một km2 đã gấp đôi Trung Quốc, ở mức 300 người/1km2 trong khi Trung Quốc là 149 người/1km2.
Nạn nhân mãn không chỉ ở Trung Quốc mà chính chúng ta đang phải chia sẻ một không gian chung nhỏ hẹp ở vùng duyên hải vắng bóng cây và dày đặc bê tông cốt thép.
Điều 4 Luật đất đai năm 2013 (đang có hiệu lực) quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Từ ban đầu là “tài sản của nhân dân”, sau một số quyết định hành chính, đã trở thành tài sản của các tập đoàn tư nhân và bây giờ đang lần lượt về tay ngoại quốc. Những hoa trái ở thấp và dễ hái đã được bỏ trọn vào túi tư nhân.
Doanh nghiệp nước ngoài nhiều và nhỏ hơn
Ngoài lĩnh vực bất động sản, một nền kinh tế muốn phát triển bền vững phải có công nghiệp sản xuất. Hiện nay chúng ta không có một nền sản xuất và công nghiệp nặng đáng kể nào để có thể nêu tên.
Trước đây, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã vào Việt Nam với ý định là sẽ chuyển giao công nghệ, tìm kiếm những nhà thầu trong nước, thiết lập chuỗi cung ứng nội địa để giảm giá thành sản xuất.
Nhưng sau hơn 20 năm, từ quy hoạch các ngành kinh tế rất đồ sộ đã dần dần chuyển thành “quy hoạch” các ngành cung ứng “nguyên phụ liệu” và rồi cuối cùng vẫn không thể đáp ứng được các yêu cầu nhỏ nhất của các nhà sản xuất.
Tỷ lệ nội địa hoá vẫn rất thấp và doanh nghiệp nước ngoài đã nhảy vào đảm nhận sản xuất luôn cả ốc vít, thùng carton, đóng gói và giao nhận hàng hoá. Hiện nay Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản… đang dần dần xây dựng hệ thống cung ứng khép kín cho những nhà máy của họ ở Việt Nam.
Số lượng doanh nghiệp do người nước ngoài làm chủ tại Việt Nam ngày càng nhiều và kích thước ngày càng bé. Đó là điều vô cùng đáng ngại khi các nước xung quanh cũng đang gồng mình giữa cuộc đua làm ăn và đã bung mình ngay trên sân khách.
Song song với đó là việc các ngành dịch vụ và bán lẻ đã và đang được chuyển nhượng cho đối tác nước ngoài: Central Retail của Thái Lan đã hoàn tất việc thâu tóm chuỗi siêu thị điện máy Nguyễn Kim, Công ty ThaiBev của tỷ phú đã chi đến hơn 5 tỷ đô để mua Sabeco và hàng loạt thương vụ khác đang được đàm phán.
Ngoài ra, các công ty hàng đầu về dịch vụ, tư vấn đào tạo, logistic hay bảo hiểm nhân thọ đều là của người nước ngoài. Không một ngành nghề dịch vụ nào có được dấu ấn đặc sắc của riêng chúng ta ngoại trừ hình ảnh đậm nét nhất là ‘làm thuê’ cho các ông chủ nước ngoài ngay trên chính quê hương mình.
Trục trặc nghiêm trọng ở hệ thống ngân hàng.
Nếu như yếu kém cuả toàn bộ nền kinh tế là vấn đề trong suốt nhiều năm nhưng chúng ta vẫn ì ạch vượt qua thì năm nay trục trặc ở hệ thống ngân hàng là sự cố lớn nhất, có khả năng kích hoạt một cuộc khủng hoảng tồi tệ.
Bởi vì hơn 10 năm qua, ngân hàng đã đứng ra bảo lãnh phát hành lòng vòng quá nhiều trái phiếu cho doanh nghiệp, như một kiểu đa cấp cắn đuôi nhau để hưởng lợi trong chính tháp ngà của mình. Khi xảy ra các vụ khủng hoảng như FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát….đã xô đẩy hàng loạt các doanh nghiệp không thể phát hành tiếp trái phiếu để trả nợ mà quay vòng tiếp.
Giờ đây tất cả các doanh nghiệp chỉ còn nhìn vào tín dụng ngân hàng nhưng thanh khoản của hệ thống ngân hàng có thể căng thẳng bất cứ lúc nào và ‘tăng xông” là điều rất dễ xảy ra. Năm nay chắc chắn càng tồi tệ hơn vì suốt một thời gian dài các doanh nghiệp đã đầu tư vào bất động sản là các tài sản không tạo ra dòng tiền để trả nợ khi đến hạn và thị trường thì đang đứng yên.
Ở cấp độ sản xuất nhỏ, các doanh nghiệp rất khó tiếp cận vốn vay cho vay sản xuất vì tài chính kém minh bạch, tài sản đảm bảo thiếu, khả năng quản lý kém và lãi suất cao. Do vậy, cái gốc của nền kinh tế không được đảm bảo, như cây đang lên mà không có rễ nhỏ để nuôi thân, chỉ cần một cơn gió là đổ xuống.
Ở một chiều kích khác, chưa bao giờ vay tiền để đi nước ngoài dễ dàng như bây giờ, nó đang trở thành một xu hướng giải ngân cơ bản của các ngân hàng ở vùng nông thôn. Bởi vì thực sự đi làm thuê ở nước ngoài luôn có một khoản tiền đều đặn gửi về để trả lãi.
Trong khi các doanh nghiệp nước ngoài đang đi vào Việt Nam, chúng ta bắt đầu rời bỏ quê hương để bán sức lao động đơn thuần ở nơi xa xôi, đây chỉ là kiểu bóc ngắn cắn dài rất mong manh.
Bộ máy “khô dầu” vì thiếu phong bì bôi trơn
Khi những trái thấp của nền kinh tế đã bị hái đi thì tương lai sẽ cần nhiều nguồn lực và khó khăn hơn rất nhiều và đòi hỏi một tư duy mới. Thế nhưng hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam bị kẹt giữa một không gian phát triển nhỏ và tầm tư duy tù túng.
Các tập đoàn lớn của Nhà nước liên tục lỗ mà vẫn được ưu ái giữ “vai trò chủ đạo” và bao trùm lên toàn bộ nền kinh tế là một bộ máy toàn trị đang “khô dầu”. Toàn bộ hệ thống chính quyền của Việt Nam đang bị ngưng trệ vì thiếu “phong bì” bôi trơn.
Trước đây thì ai cũng biết, là không ai có thể sống bằng lương nhưng ai cũng sống tốt vì có “lậu”. Nhưng giờ đây “lò đang cháy” và tai mắt thì đầy rẫy chung quanh. Việc nhận phong bì đã trở nên kín đáo hơn và khó khăn hơn.
Trước đây người ta nổ thẳng số tiền bằng “tiếng việt” nhưng bây giờ họ viết trong lòng bàn tay rồi mở ra hoặc kín đáo ghi xuống một tờ giấy, đặt trên bàn của mình rồi xoay ngược tờ giấy lại cho người dân thấy con số. Không đồng ý có thể ghi lại con số hoặc tỷ lệ ăn chia khác.
Hai bên cứ giao dịch như vậy và không một âm thanh nào được phát ra vì điện thoại hầu như đã được bật chế độ ghi âm khi bước vào cửa công quyền giao dịch.
Khi “người khôn của khó”, thì quan tham hơn và dân cũng gian hơn.
Văn hoá ăn chơi của các quan chức cũng đã bước sang một thời kỳ mới, bí mật và truỵ lạc hơn. Họ sẽ ra nước ngoài hoặc đến những nhà riêng được hẹn trước trong những khu vực kín đáo và “điều hàng” chứ không còn đến những nơi đông đúc như trước.
Đối với người dân thì chỉ biết vùi đầu trong những trò chơi giải trí rẻ tiền trên mạng. Một người bạn tôi cho rằng người dân đã thay đổi cả thói quen đi “nhậu”, rút lui về nhà, uống nhiều hơn bằng những chai rượu có tỷ lệ cồn cao hơn và với giá rẻ hơn.
Nếu không có một tầm tư duy mới để cải tổ chính trị và mở ra những không gian phát triển kinh tế khác, chúng ta sẽ dần dần xuống dốc rồi rơi tõm vào bẫy thu nhập trung bình và năm 2023 này sẽ là dấu chỉ ban đầu.
KHI LUẬT SƯ BỊ ĐUỔI KHỎI PHIÊN TOÀ
Ngày 25/5, luật sư Ngô Anh Tuấn đã bị buộc phải rời khỏi phòng xử án trong khi đang bào chữa cho bị cáo Bùi Tuấn Lâm.
Chỉ cách đây 1 tháng, hai luật sư của cô giáo Lê Thị Dung là Vũ Quang Ninh và Hoàng Thị Phương cũng đã bị buộc rời khỏi phòng xử án trong một vụ việc gây tranh cãi.
Trước đó, luật sư Bùi Gia Nên, Nguyễn Duy Bình, Vũ Thị Nga, Trần Vũ Hải…. đều đã từng bị tước quyền bào chữa, buộc phải rời khỏi phòng xử án, thậm chí có luật sư còn bị áp giải đến trụ sở công an….
Cá nhân tôi vào năm 2003 cũng đã trải qua tình huống đặc biệt. Đó là sau khi kết thúc bài bào chữa “hùng hồn” cho thân chủ của mình, tôi đã bị một thẩm phán ở toà án quận Câu Giấy ép vào một căn phòng cuối toà án.
Ở đó đại diện cả 3 cơ quan là toà án, viện kiểm sát và công an đã ngồi sẵn, lên tiếng đe doạ khởi tố và bắt tôi ngay tại toà nếu tôi không giao nộp các tài liệu, băng ghi âm và dụng cụ minh hoạ cho bài bào chữa của mình.
Ở Việt Nam, rất nhiều trường hợp luật sư không thể thực hành quyền bảo vệ thân chủ của mình vì bị chủ toạ phiên toà “buộc” ra khỏi phòng xử án với nhiều lý do khác nhau. Vậy căn cứ pháp luật ở đây là gì?.
TẤT CẢ NẰM Ở “THÁI ĐỘ”
Tôn trọng toà là điều mà luật pháp ở bất cứ các quốc gia nào cũng đòi hỏi và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Việc yêu cầu cảnh sát tư pháp áp giải ra khỏi toà những người vi phạm cũng là bình thường của các toà án trên khắp thế giới.
Khoản 2 Điều 256 Bộ luật tố tụng hình (BLTTHS) sự quy định: “Mọi người trong phòng xử án phải tôn trọng HĐXX, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa”.
Khoản 2 Điều 3 Quy chế tổ chức phiên tòa ban hành kèm theo Thông tư số 02/2017/TT-TANDTC của chánh án TAND Tối cao cũng quy định: “Người vi phạm nội quy phòng xử án thì tùy từng trường hợp có thể bị chủ tọa phiên tòa buộc rời khỏi phòng xử án…”
Theo khoản 2 Điều 467 BLTTHS thì “Chủ toạ phiên toà có quyền ra quyết định buộc người vi phạm rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính” nhưng hiện nay chưa có một hướng dẫn chi tiết là như thế nào là “vi phạm” và chủ toạ phiên toà “ra quyết định đó” là bằng hình thức nào?, lệnh mồm hay là bằng văn bản?.
Khái niệm “Tôn trọng Hội đồng xét xử” cũng là rất chung chung, đầy cảm tính và chưa có một văn bản pháp luật nào chi tiết hoá thế nào là “tôn trọng” thế nào là “khinh thường” quan toà.
Đối với nhiều thẩm phán thì thái độ khúm núm, hoặc “nước mắt” sẽ là một thái độ tốt. Ngược lại nếu như “ngẩng cao đầu” và “tự tin” thì bị cho là có thái độ không tốt.
Khi luật sư tin tưởng là thân chủ của mình không có tội thì thường thẳng thắn và rất quyết liệt trong việc bảo vệ nhưng thái độ đó thường sẽ có một tác động tiêu cực.
Lẽ ra “quan toà” ngồi ở giữa để “điều phối” và lắng nghe sự tranh tụng giữa đại diện viện kiểm sát và luật sư rồi sau đó ra phán quyết. Bên buộc tội và gỡ tội tranh luận càng nhiều, càng sâu thì càng tốt vì như vậy sự thật khách quan càng dễ dàng sáng tỏ. Đó cũng là yêu cầu của nguyên tắc xét xử tại toà.
Thế nhưng quan toà ở Việt Nam luôn đứng về phía viện kiểm sát vì họ cùng là “người nhà nước”, người của “đảng”, là “phe ta”.
Lý do phổ biến nhất của việc đuổi luật sư ra khỏi phòng xử án thường là trong quá trình tranh tụng, đại diện VKS bị “đuối lý” nên không tranh luận lại và luật sư thì lại tiếp tục “dí” đòi tranh luận. Quan toà thấy vậy phải sự dụng quyền chủ toạ để “cứu bồ”.
Trong các vụ án chính trị, thì 3 bên (công an, viện kiểm sát và Toà án) đều đã ngồi lại với nhau, bàn bạc và nhận chỉ thị từ “đảng” rồi mới đứng ra xét xử. Quá trình gọi là “xét xử” thực chất là thi hành một vở diễn và phải đảm bảo làm sao cho đúng kịch bản.
Khi luật sự hỏi khó các “diễn viên” sợ vỡ trận thì quan toà áp dụng biện pháp “bịt miệng” bằng cách liên tục ngắt lời. Nếu luật sư tiếp tục lên tiếng đòi hỏi phải tranh luận, thì “mời ra khỏi toà” là giải pháp hữu hiệu nhất nhưng đó cũng là dấu hiệu rõ ràng nhất của sự chưa trưởng thành trong văn hoá tranh tụng.
HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC “ĐUỔI LUẬT SƯ”
Khi buộc luật sư rời khỏi phòng xử án chính là lúc quan toà tước đi mất quyền bào chữa của bị cáo, là làm mất đi một quyền Hiến định. Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.
Quyền được bào chữa cũng được quy định tại Điều 322 Bộ luật TTHS: “Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên…”.
Điều 26 Bộ luật TTHS cũng sự quy định “người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án…”
Khi đã đuổi luật sư ra rồi thì đương nhiên không còn có quyền bình đẳng nữa. Quyền bào chữa của bị cáo đã bị tước bỏ và do đó sự thật khách quan của vụ án khó lòng mà được sáng tỏ.
Theo tôi, việc tuỳ tiện cắt lời, buộc im lặng hoặc đuổi luật sư ra mà vẫn cứ tiến hành xét xử là vi phạm tố tụng. Lẽ ra khi thấy có dấu hiệu vi phạm thật sự thì chủ toạ phiên toà phải nhắc nhở, sau đó ra quyết định xử lý vi phạm và dừng phiên toà cho đến khi bị cáo có được luật sư khác tham gia.
Chúng ta phải thừa nhận rằng trong quá trình phát triển thì luật sư và các quan toà cũng “đang phát triển” nên trình độ chưa đồng đều. Các thẩm phán luôn luôn có những hành xử khác nhau, ở những nơi khác nhau và tâm lý cũng rất thất thường..
Cho nên Hội đồng thẩm phán Toà Án tối cao cần phải có một hướng dẫn để các chủ toạ không thể tuỳ tiện “đuổi” luật sư ra khỏi phòng xét xử. Hiện nay Bộ luật hình sự và Tố tụng hình sự đã có hiệu lực hơn 7 năm, thì một văn bản hướng dẫn như vậy từ Hội đồng thẩm phán toà án tối cao là rất cần thiết.
Khi bị đuổi khỏi toà, nhiều luật sư đã từng kiến nghị lên Liên Đoàn luật sư để nhờ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình nhưng hầu hết đều rơi vào quên lãng. Điều này cho thấy vai trò của Liên Đoàn luật sư cũng rất hình thức, nó là cơ quan đại diện được lập lên nhưng thực sự không hữu hiệu như một số luật sư đoàn ở các nước.
CẢM NGHĨ VỀ NGHỀ LUẬT SƯ
Do suốt một thời gian dài đất nước Việt Nam ta chỉ quan tâm đến “chuyên chế vô sản” mà không quan tâm đến “pháp luật” nên vai trò của luật sư trong xã hội là rất mờ nhạt.
Khi tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế, đất nước bắt đầu có các bộ luật, thì luật sư như một chỗ chứa đựng rất nhiều “loại người”, trong đó rất nhiều người không có trình độ chuyên nghiệp. Rất nhiều luật sư đời đầu là công an, thẩm phán, kiểm sát viên “có vấn đề”, “bị tuột xích” hoặc về hưu liền “hàm thụ” và trở thành luật sư, với năng lực chuyên môn vô cùng yếu kém.
Nhiều luật sư cũng ghi danh lấy tiếng cho “oai” mà không muốn hoặc không thể tiến hành một hoạt động nghề nghiệp nào. Xã hội thì vẫn nhìn nhận nghề luật sư như một “nhịp cầu nối những bờ vui”, là làm trung gian môi giới hối lộ giữa thân chủ và quan toà.
Tuy vậy, vẫn có những luật sư chấp nhận dấn thân, bảo vệ thân chủ trong những vụ viêc khó và có dấu hiệu oan sai, đặc biệt là các vụ án chính trị. Họ bị theo dõi, đánh đập và còn phải chịu đựng những áp lực vô cùng nặng nề.
Nhiều luật sư đã bị tước quyền hành nghề luật sư hoặc phải đi ra nước ngoài như Luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Trần Luật… nhiều luật sư bị tước giấy phép hành nghề như Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Võ An Đôn, Lê Quốc Quân, Trần Vũ Hải….
Hiện nay luật sư Đặng Đình Mạnh và một số luật sư khác trong vụ “tịnh thất Bồng Lai” vẫn đang bị triệu tập, theo dõi và có nguy cơ bị bắt. chỉ vì họ mong muốn đi đến tận cùng của sự thật khách quan để kiếm tìm công lý.
Khi nghĩ về nền tư pháp tôi thường nghĩ về bức ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt mồm ngay tại phiên toà 17 năm trước. Ngày nay thay vì trực tiếp bịt mồm bị cáo, cơ quan tố tụng tiếp tục “đuổi cổ” luật sư ra khỏi toà án, tước đi quyền được bào chữa chính đáng của họ.
Đây là một dấu hiệu cho thấy nền tư pháp Việt Nam không hề tiến bộ trong những năm qua và là thách thức lớn cho những ai đang mong muốn sự phát triển của nó, đặc biệt là các luật sư.
Bài gốc đã được đăng trên Blog VOA Tiếng Việt
_________
Friday, May 26, 2023
NỢ CÔNG Ở MỸ VÀ MINH BẠCH NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM
Điểm khó khăn nhất của Nhà nước Việt Nam là do có một “Nhà nước song trùng”, nghĩa là song song với một chính phủ công khai thì còn có một chính phủ thực sự của đảng cộng sản.
Theo số liệu thống kê của Ngân Hàng thế giới thì đến cuối năm 2021, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hoa Kỳ là 23.32 ngàn tỷ USD, chiếm 24,1% GDP toàn cầu.
Từ cuối thế kỷ 19, đất nước non trẻ này đã vượt qua đế chế Anh, dẫn dắt thế giới đi lên với vô vàn khái niệm tài chính tiền tệ theo sự tưởng tượng kỳ diệu của các chuyên gia nhưng ngày càng mông lung với người dân lao động.
Khi bước chân đến New York, người bạn tôi chỉ những cao ốc và nói rằng, “gần 1/3 tiền tệ thế giới đi qua thành phố này”. Khi xuôi về Washington DC, người bạn ghé tai thì thầm: “Hơn 1/2 quyền lực chính trị thế giới nằm ở đây”.
Bất cứ lúc nào ở New York ta cũng gặp đại diện các tập đoàn tài chính trong những cao ốc sang trọng còn bất cứ lúc nào trên vỉa hè Washington DC, chúng ta cũng vô tình gặp một bộ trưởng của một quốc gia nào đó đang rảo bước.
Nhưng giờ đây quốc gia giàu mạnh nhất hành tinh lại không thanh toán được các hoá đơn của mình hay sao?
Bảng cân đối - Phát minh kỳ diệu
Sau khi phát minh ra tiền tệ, loài người bắt đầu đẻ ra hàng loạt thứ thú vị, trong đó có bảng “cân đối kế toán”. Bảng “ghi nhận những thu chi” này bắt nguồn từ hơn 3,000 năm trước ở vùng Mesopotamia và Ai Cập cổ đại và liên tục được cập nhật trong suốt hàng ngàn năm. Giờ đây nó đã trở nên vô cùng phức tạp với vô vàn khái niệm phi vật chất dựa trên ngôn ngữ, sự tưởng tượng và logic toán học của con người.
Nhưng cụ thể là, giống như mọi cá nhân, gia đình, tổ chức… chính phủ cũng phải có một bảng cân đối thu chi của mình. Khi còn chế độ Kim bản vị (bản vị vàng) thì chính phủ chỉ được in một số tiền tương ứng với số vàng mình có và tiền đó sẽ được “bảo chứng” 100% bằng vàng. Sau Thế Chiến Thứ Nhất, chế độ kim bản vị dần dần suy yếu và cuối cùng đã bị kết liễu bởi tổng thống Nixon vào năm 1971 bằng sắc lệnh 11615.
Từ đó chính phủ Hoa Kỳ có thể in tiền theo nhu cầu chi tiêu mà không buộc phải có một số lượng vàng tương ứng để bảo chứng. Tương tự như nhiều nước, việc quản lý chi tiêu tại Hoa kỳ do quốc hội thông qua và giám sát nó.
Khi chi lớn hơn thu thì phải vay và sẽ “ghi nợ” vào tương lai. Kỳ vọng vào việc trả nợ cũng chính là kỳ vọng vào tương lai phát triển của loài người, thông qua khả năng tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Những quốc gia có mức nợ công cao cũng thường là những đất nước phát triển nhất.
Minh bạch ngân sách ở Hoa Kỳ và Việt Nam
Nếu như khả năng vỡ nợ của Hoa Kỳ là xây dựng dựa trên các số liệu báo cáo và cân đối thu chi thì ở Việt Nam là một bức tranh hoàn toàn khác.
Các tài khoản về ngân sách quốc gia ở Mỹ được hình thành và công bố rộng rãi cho toàn dân có thể tìm hiểu . Ai ai cũng có thể tiếp cận và đọc được từng dòng ngân sách dành cho từng việc chi tiêu. Chính vì vậy Bộ tài chính Hoa kỳ có thể xác định được số tiền mặt hiện có và dự báo chính xác đến từng ngày về việc “hết tiền”.
Ngược lại, tìm hiểu các khoản chi Ngân sách quốc gia tại Việt Nam là như mò kim đáy bể. Điều 15, Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 (Luật số 83/2015/QH13) quy định rất rõ và chi tiết về việc phải “công khai ngân sách Nhà nước” nhưng có quá nhiều cách “công khai”, ví dụ: thay vì đưa lên trang web, chính phủ thông báo ở cuộc họp riêng hoặc dán ở bảng tin, chụp ảnh làm bằng chứng đã công khai, rồi sau đó gỡ xuống ngay.
Thay vì viết ra rõ ràng dễ đọc thì người ta tìm mọi cách để che giấu những điều cần giấu mà khi cần vẫn nói là đã “công bố”. Kỹ năng che dấu này ở bậc thượng thừa, cơ bản là vượt trên những hiểu biết thông thường của nhân dân.
Người viết đã cố gắng tìm kiếm các dòng chi ngân sách cho từng lĩnh vực nhưng vô cùng khó khăn. Năm trước tôi tìm và thấy dư toán ngành công an lớn hơn gấp 4 lần ngành giáo dục và đã đưa lên Facebook và năm nay không còn được công khai nữa.
Điều đáng chú ý là chỉ có “dự toán” là công khai còn trong quá trình làm việc, chính phủ và quốc hội, theo lệnh của đảng cộng sản liên tục điều chỉnh, sửa đổi, làm tròn số rất tuỳ tiện theo kiểu “bốc thuốc” mà các chuyên gia sừng sỏ nhất cũng phải chạy đua quyết liệt, đào bới từng dòng mới ra được một vài con số có ý nghĩa ẩn giấu dưới lớp chữ.
Kiểm toán nhà nước và bản chất song trùng
Điểm khó khăn nhất của Nhà nước Việt Nam là do có một “Nhà nước song trùng”, nghĩa là song song với một chính phủ công khai thì còn có một chính phủ thực sự của đảng cộng sản.
Chính phủ có các bộ thì trong đảng cũng có các ban. Ví dụ: Chính phủ có Văn phòng chính phủ, Bộ tài chính, Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Ngoại giao… thì đảng cũng có: Văn phòng TW đảng, Ban kinh tế, Ban đối ngoại, Ban tuyên giáo… với quy mô, con số biên chế không thua kém và quyền lực thì lại lớn hơn cả các bộ của chính phủ.
Ngân sách của bên Đảng chưa bao giờ được công khai chi tiết. Nhân dân đang bàn đến việc kiểm toán thu chi của Chính phủ nhưng chưa ai dám nhắc tới về việc kiểm toán tài chính của đảng. Chúng ta chỉ một lần biết được rằng một tờ báo Nhân dân của đảng có dự toán chi lớn hơn cả đài truyền hình VTV và năm nay không tìm thấy được nữa.
Khi còn hoạt động bí mật, đảng đã dùng rất nhiều cách cả hợp pháp và bất hợp pháp để tạo ra tiền chi tiêu cho tổ chức của mình, nhưng giờ đã gần 80 năm cầm quyền, hệ thống pháp luật coi như đã khá đầy đủ nhưng nhân dân vẫn không chính xác tiền Đảng lấy từ ngân sách là bao nhiêu? được chi tiêu như thế nào, báo cáo và kiểm toán ra sao?.
Nếu tiếp tục như vậy, đảng cộng sản Việt Nam nên rút vào hoạt động bí mật chăng?
Trong năm năm qua, mức độ công khai ngân sách ngày càng thụt lùi. Luật Ngân sách ban hành ra nhưng các nghị quyết, nghị định và thông tư dưới luật ngày càng bóp hẹp lại, các chỉ đạo thì càng theo hướng phòng thủ và kém minh bạch làm cho người dân vô cùng khó khăn trong việc tiếp cận thông tin.
Ví dụ Nghị quyết số 40/2021/QH15 năm 2021 có công khai trên mạng gửi kèm theo Phụ lục 2 và Phụ lục 3 ghi rõ dự toán thu chi của từng ngành, từng lĩnh vực, của các bộ ngành trong năm 2022 nhưng đến Nghi quyết số 69/2022/QH15 của năm nay thì các phụ lục trên không còn được công khai. Hình thức công khai cũng kém đi: thay vì đưa lên mạng thì chỉ họp phổ biến; thay vì phát hành ấn phẩm thì chỉ dán ở bảng tin nội bộ… Các nhà báo ngày càng khó khăn hơn khi lấy tin, có tin rồi càng khó khăn hơn khi đưa tin.
Nếu so sánh với Mỹ đang sắp vỡ nợ thì Việt Nam có lẽ không bao giờ vỡ nợ vì nhân dân thực sự không biết bảng “cân đối kế toán” của nhà nước nó như thế nào và Đảng muốn như thế nào? Và nếu có khả năng vỡ nợ thì sửa luôn cách tính GDP để mức vay thấp hơn.
Đòi hỏi của dân và sân chơi quốc tế
Chi cho đầu tư phát triển là quan trọng và, nhà nước cũng như cá nhân, thiếu thì có thể đi vay. Vay nợ cũng là chuyện bình thường nhưng chủ nợ luôn có xu hướng tìm kiếm sự minh bạch để đánh giá được mức độ rủi ro tài chính đến đâu.
Dù cho sắp có khả năng vỡ nợ, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia có uy tín và dễ dàng đi vay nhất. Ngược lại, chính phủ Việt Nam đang rất tù mù trong công bố thông tin ngân sách quốc gia; nhà nước hoạt động song trùng, tài chính đảng chồng lấn, lồng ghép với chính phủ từ trung ương xuống địa phương. Trường hợp cô Lê Thị Dung vừa qua là rất phức tạp, nhập nhằng. Nó như một cục rối vô cùng khó gỡ cho những người mong muốn quản lý ngân sách bằng đầu ra.
Cụ thể cô Lê Thị Dung là một con người giữ hai nhiệm vụ, ăn hai lương, điều chỉnh bằng 2 văn bản là Quyết định số 169/QĐ-TW của Ban bí thư BCH TW đảng về chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với cấp ủy viên với tư cách cô ấy là Bí thư chi bộ, và Thông tư số 28/2009/TT-BGDDT của Bộ Giáo dục về chế độ với giáo viên phổ thông với tư cách cô ấy là giáo viên.
Đây chính là một trường hợp điển hình của một con người ở cơ sở vừa là giáo viên vừa là đảng viên mà không một bảng “cân đối kế toán nào” tự nó có thể minh bạch được. Có hàng triệu trường hợp như vậy thì sai số của “bảng cân đối thu chi” ngân sách nó lớn đến nhường nào và ngân sách quốc gia không thể nào minh bạch được.
Nếu không minh bạch được ở tầm cấp quốc gia, thì các tổ chức quốc tế khó cho vay tiền trong khi lúc này Việt Nam đang bắt đầu thời kỳ phải vay nợ để trả nợ gốc và lãi, trong bối cảnh tốc độ giải ngân thực sự yếu kém, đặc biệt là giải ngân từ vốn vay nước ngoài chỉ đạt 3,43% kế hoạch đề ra trong quý 1 năm nay.
Mỹ có thể vay nợ nhiều, cả với quốc tế và người dân trong nước, nhưng bất cứ ai cũng biết được khoản tiền mình cho vay đã đi vào đâu, làm việc gì và luôn luôn được hai đảng đối lập bàn bạc và thách thức lẫn nhau trên từng dòng ngân sách.
Ngược lại Việt Nam có thể sẽ không bao giờ vỡ nhưng sự tù mù về ngân sách ảnh hưởng ngay đến sự phát triển của quốc gia trong dài hạn.
Bài viết được đăng trên trang Blog của VOA tại địa chỉ
https://www.voatiengviet.com/a/no-cong-o-my-va-minh-bach-ngan-sach-o-viet-nam/7107488.html
Sunday, May 21, 2023
NƯỚC MỸ CÓ VỠ NỢ? THỰC CHẤT VÀ HỆ LUỴ?
Mỹ đang là quốc gia có tổng tài sản quốc dân lớn nhất thế giới nhưng cũng nợ nhiều nhất thế giới trong đó Trung Quốc và Nhật Bản là hai chủ nợ lớn nhất.
Theo Bộ trưởng tài chính Hoa Kỳ Janet Yellen, ngày 1/6 này có thể xảy ra một điều chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ, đó là ngày mà chính quyền sẽ không có đủ tiền trả các “hoá đơn đến hạn phải thanh toán”.
Điều này sẽ tác động rất lớn tới toàn bộ nền tài chính toàn cầu nhưng sự khủng khiếp của nó và mức độ ảnh hưởng đến đâu thì chưa ai có thể biết được. Vậy tại sao một quốc gia số một trên hành tinh này lại có thể vỡ nợ và bản chất của nó ra sao?
Trần nợ công là gì?
Trần nợ công là mức trần pháp lý về số tiền tối đa mà chính phủ được phép vay để thanh toán các khoản nợ và chi tiêu. Khi vay đến một ngưỡng nào đó đã được quy định mà không có thể được vay tiếp thì sẽ bị coi là “chạm trần”.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đưa ra mức trần nợ công bằng một tỷ lệ phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nghĩa là việc vay nợ thường gắn với quy mô nền kinh tế, GDP càng cao thì càng được phép vay nhiều.
Nếu tính ra tỷ lệ vay nợ so với GDP thì nước Mỹ đang vay ở mức 123% với số tiền gần chạm trần con số 31.46 ngàn tỷ USD. Hầu hết các quốc gia thì nợ công đều dưới mức 100% so với GDP tuy nhiên cũng có nhiều nước vay nợ nhiều như Nhât Bản hiện ở mức 226%, Singapore 167%, Ý 144% và Pháp 113% (1).
Trong các nước kinh tế phát triển, chỉ có Mỹ và Đan Mạch thì trần nợ được đưa ra là một con số nguyên tuyệt đối, nhưng trường hợp của Đan Mạch hoàn toàn mang tính tượng trưng vì nó quá cao và còn lâu mới có thể vay đạt đến ngưỡng đó (2). Cụ thể số tiền mà chính phủ Đan Mạch hiện nay có thể vay là lên đến hai ngàn tỷ Krone Đan Mạch trong khi họ thực sự đang vay 323 tỷ Krone (3). Gần đây Đan Mạch lại đang có thặng dư ngân sách nên mức vay ngày càng ít, và có ý kiến cho rằng chính phủ đang đau vì nhiều tiền mà chưa biết làm gì.
Trong khi đó ở Mỹ nợ công sau 100 năm, từ 408 tỷ USD vào năm 1922 đã lên đến 30,9 ngàn tỷ vào năm 2022 (4). Các nhà lập pháp liên tục đặt ra các mức để giới hạn chính phủ cẩn thận trong chi tiêu và sau đó lại nới trần để được phép vay tiếp. Lần này mức đặt ra là chỉ được chạm đến ngưỡng: 31.46 ngàn tỷ USD mà cho đến nay thì đã sắp đến.
Do lo sợ sắp đáo hạn mà không có tiền để trả nợ cho nên Quốc hội gần đây đang làm việc quyết liệt để giải quyết nó. Thực tế thì Quốc hội Hoa Kỳ thường xuyên phải làm việc này. Họ đã phải hành động đến 78 lần kể từ năm 1960 để bàn thảo và quyết định nâng trần nợ công, giúp cho chính phủ tiếp tục vay tiền thanh toán các khoản nợ đến hạn (5).
Nhưng lần này có thể khó khăn hơn và, trong một kịch bản tệ nhất, nước Mỹ có thể bị vỡ nợ một cách kỹ thuật, xô đẩy chính nó và hàng loạt quốc gia trên thế giới vào một cuộc khủng hoảng vô tiền khoáng hậu.
Việt Nam sửa luôn cách tính GDP để vay thêm
Nợ công Việt Nam cũng là mối ưu tư lớn của những người quan tâm đến vận mệnh đất nước và báo chí lề phải đã lên tiếng về việc này (6). Với GDP vào năm 2021 ở mức 368 tỷ USD, và mức nợ công là 43% trên GDP thì con số tuyệt đối là khoảng 158 tỷ USD, chia cho khoảng 98 triệu người, mỗi người Việt hiện nay ngay khi sinh ra đã phải mang nợ 37 triệu đồng.
Điều nguy hiểm là nhiều người ở Việt Nam đang quên vụ nợ công vì chính phủ gần đây quảng bá nợ công đang giảm xuống còn 42% so với mức cao nhất là 61,4% vào năm 2017. Hồi đó chính nó đã vượt trần Quốc hội cho phép là 60% GDP. Như vậy, xét về mặt kỹ thuật, thì Việt Nam đã từng vỡ nợ. Tuy nhiên, thay vì tăng thu và giảm chi để kéo mức nợ công xuống, chính phủ Việt Nam vào năm 2020 hoàn tất phương pháp tính lại GDP, nghĩa là thay luôn cả thước đo, tăng mẫu số để giá trị phân số nhỏ đi (7).
Vi diệu là ở chỗ đó. Ai chê mình thấp thì thay luôn cả thước để cho cao hơn.
Thật vậy, vào năm 2017, tổng cục thống kê ban đầu công bố GDP của Việt Nam là 220 tỷ Đô la và sau đó điều chỉnh lại, cộng thêm 55 tỷ thành GDP 275 tỷ, với lý do là cách tính trước đây đã bỏ quên 79 ngàn doanh nghiệp. Rồi lần lượt các năm sau đó Tổng cục Thống kê cứ nhân với tỷ lệ tăng trưởng được công bố và cho đến năm 2020 thì hoàn toàn tính theo cách mới và công bố gần đây nhất là năm 2021 thì tổng GDP của Việt Nam là 366 tỷ USD.
Khi tăng GDP thì một loạt chỉ số tính toán dựa theo GPD như nợ công, nợ nước ngoài, thâm thụt ngân sách sẽ đương nhiên giảm xuống. Nhìn con số sẽ đẹp hơn rất nhiều và chính phủ lại có điều kiện đi vay tiếp, nghĩa là lại tiếp tục bỏ thêm gánh nặng lên lưng thế hệ mai sau mà không ai còn làm toáng lên như ở Hoa Kỳ.
Nước Mỹ lạ lùng mà cần thiết
Tôi nghĩ chỉ có nước Mỹ là thực sự tự do và quyết liệt trong việc bàn bạc những vấn đề của tương lai, cả kinh tế và xã hội, bất luận đôi lúc có vẻ như được “vũ khí hoá” cao độ.
Gần đây trên khắp các phương tiện truyền thông người ta đều nói về trần nợ (debt ceiling). Các thị trường chứng khoán toàn cầu phập phồng lên xuống theo từng động thái đầy kịch tính của các nghị sĩ tại Washington DC.
Lần này có vẻ hai bên đang “nghiêm túc” chuyện trần nợ công và mức độ quyết liệt có vẻ cao hơn vì những lo lắng cho chuyện chi tiêu của đất nước, tránh để lại di sản nặng nề cho con em, nhưng cũng có thể là sự thể hiện của những chia rẽ vẫn âm thầm còn đó kể từ cuộc bầu cử năm 2020.
Vào năm 2011, nếu như Tổng thống Obama không đồng ý cắt giảm chi tiêu khi chỉ còn 72 giờ đồng hồ nữa là chính phủ liên bang thực sự vỡ nợ thì không biết sự việc sẽ xảy ra như thế nào? Nhưng qua sự việc đó ta thấy các nhà lập pháp đã từng được thử nghiệm một lần và có vẻ như lần này đã sẵn sàng cho một cuộc vỡ nợ thật sự.
Lần này, với khả năng “gây sự” cao hơn, và các đảng viên Cộng hoà không nhượng bộ mà vẫn đòi thắt chặt chi tiêu, không cho nâng trần nợ công lên còn tổng thống kiên quyết không nhượng bộ và vẫn theo lộ trình chi tiêu của mình thì rất có thể một điều gì đó sẽ xảy ra.
Cá nhân tôi thì tin rằng chắc chắn cuối cùng hai đảng cũng sẽ tìm được tiếng nói chung và trần phải được nới lên nhưng họ sẽ giằng co nhau cho đến phút cuối. Mỗi một phút trôi qua, là mỗi phút thế giới hồi hộp nhìn theo nước Mỹ, nín lặng lắng nghe tiếng đồng hồ tích tắc nhích về phía chạm trần.
Tổng thống Biden vẫn còn một “vũ khí” quan trọng nằm ở câu sau trong Tu chính án số 14: “the validity of the public debt of the United States, authorized by law … shall not be questioned.” để có thể đơn phương hành động mà nâng trần nợ công lên. Câu tiếng Anh này có thể tạm dịch là “tính hợp lệ của khoản nợ công của Hoa Kỳ, được pháp luật cho phép… sẽ không bị nghi ngờ.” Nhưng không chỉ đơn giản như vậy, giữa 3 dấu chấm trong câu trên đó vẫn còn một đoạn và các luật gia và các nhà chú giải Hiến pháp vẫn còn hiểu về nó rất khác nhau, mà bài viết nhỏ này không thể đi sâu hơn.
Tôi cũng tin rằng Tổng thống Biden sẽ không liều lĩnh sử dụng “vũ khí” quan trọng đã được thông qua hơn 150 năm trước hiện còn nhiều cách hiểu khác nhau để rồi lại phải đối mặt với những cáo buộc pháp lý đi kèm và biết đâu lại phải ra toà án vì một hành động cũng chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ.
Ảnh hưởng của việc vỡ nợ
Mỹ đang là quốc gia có tổng tài sản quốc dân lớn nhất thế giới nhưng cũng nợ nhiều nhất thế giới trong đó Trung Quốc và Nhật Bản là hai chủ nợ lớn nhất.
Nếu như Mỹ vỡ nợ, hàng loạt hệ luỵ sẽ ra đời và không biết thế giới sẽ phản ứng ra sao. Hàng loạt khuyến cáo về sư hỗn loạn và thảm hoạ kinh tế đã được các chuyên gia đưa ra và chậm trễ ngày nào uy tín kinh tế của Hoa Kỳ càng giảm trong các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và chủ nợ cho vay thì đang như ngồi trên đống lửa.
Chúng ta đang sống thực sự trong một thế giới đầy bất định. Loài người đã phát minh ra tiền tệ và cả hệ thống tài chính tín dụng khổng lồ để hành động trong đó. Giống như một không gian đang phình ra ngày một to lớn, phong phú và đa dạng đến mức gây bất ngờ cho cả những người giỏi nhất thì sớm hay muộn có một điều gì đó cũng xảy ra ngoài nhận thức thông thường của chúng ta.
Cha đẻ của AI đã lên tiếng khuyến cáo về sự nguy hiểm của nó và cảnh báo đến lúc nó có thể vượt con người. Tương tự như vậy, những hệ thống thông tin tài chính kinh tế đã được loài người sáng tạo ra với vô vàn khái niệm và phát triển hàng ngàn năm nay, cuối cùng cũng có thể bị sụp đổ hoặc biến đổi sang một kiểu gì đó.
Cá nhân tôi cho rằng, trần nợ công nói riêng, các chỉ số về hệ thống kinh tế nói chung cũng chỉ là những hình thức “pháp lý” do loài người xây dựng nên, còn chiếc xe thì vẫn chạy, động cơ trong nhà máy vẫn quay và con gà trên bàn ăn vẫn còn đó.
Tôi cũng nhìn thấy sức lao động chăm chỉ và bền bỉ ở những người Mỹ, đặc biệt là những người nhâp cư đang vô cùng hăng say làm việc để tạo ra của cải vật chất, tôi tin nó vẫn còn có sức sống và tiếp tục dẫn dắt thế giới đi lên dù có vỡ nợ hay không.
Nước Mỹ to là ở chỗ đó
Wednesday, May 17, 2023
VỤ ĐƯỜNG VĂN THÁI VÀ NHỮNG HỆ LUỴ
Việc bắt cóc người trong lãnh thổ quốc gia khác đã xảy ra từ lâu, không hiếm, đặc biệt là những quốc gia “Chí Phèo” như Triều Tiên (*) nhưng chưa bao giờ nở rộ như giai đoạn từ 2010 cho đến hiện nay.
Ngày 13/4/2023, Đường Văn Thái bị bắt cóc và tống lên một chiếc xe bán tải hiệu Mitsubishi màu trắng tại Thái Lan, sau đó một ngày truyền thông Việt Nam đưa tin đã bắt được ông “xâm nhập biên giới trái phép qua đường mòn lối mở” ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh.
Cách nay bốn năm, ngày 26/1/2019 Nhà báo Trương Duy Nhất bị mất tích tại Trung tâm thương mại Future Park, ở Bangkok, Thái Lan. Ngày 28/1/2019 công an Hà Nội đột ngột thông báo đã bắt được ông Nhất tại Đồn công an Phường Dịch Vọng, Hà Nội.
Và 23/7/2017 Trịnh Xuân Thanh bất ngờ bị ấn vào một chiếc xe trên một đại lộ ở thủ đô Berlin, cách không xa Phủ Thủ tướng Đức Quốc. Ngày 31/7/2017, Bộ Công An Việt Nam cho biết nghi can Trịnh Xuân Thanh đã ra đầu thú tại trực ban hình sự của cơ quan an ninh tại Hà Nội.
Có thể cho rằng tất cả những nhân vật trên đều là nạn nhân những vụ bắt cóc của công an Việt Nam và đó chỉ là những vụ việc tiêu biểu đã được nhận diện từ thông tin trên truyền thông Việt Nam, còn hàng loạt vụ bắt cóc đã được công chúng đề cập nhưng không được loan báo chính thức khác.
Vậy nguồn gốc và căn cứ pháp lý ở đây là gì và Công pháp Quốc tế đề cập đến vấn đề này ra sao?
Nguồn gốc và căn cứ của sự bắt cóc
Việc bắt cóc người trong lãnh thổ quốc gia khác đã xảy ra từ lâu, không hiếm, đặc biệt là những quốc gia “Chí Phèo” như Triều Tiên nhưng chưa bao giờ nở rộ như giai đoạn từ 2010 cho đến hiện nay.
Sau đại hội 18 của ĐCS Trung Quốc vào năm 2012, Tập Cận Bình đẩy mạnh chiến dịch chống tham nhũng lớn nhất trong lịch sử với tên gọi “đả hổ, diệt ruồi”, trong đó có phối hợp với các quốc gia trên thế giới để truy lùng tội phạm tham nhũng thông qua chiến dịch “lưới trời” và “săn cáo”.
Tham khảo Tân Hoa Xã, Reuters thống kê, từ 2012 cho đến 2018, Trung Quốc đã bắt giữ 4,141 tội phạm kinh tế từ 90 nước trên khắp hành tinh. Cũng Tân Hoa Xã khoe Trung Quốc đã “đưa được” khoảng 10.000 kẻ đào tẩu về nước.
Ngoài chuyện bắt cóc các tội phạm kinh tế, tham nhũng, Trung Quốc còn “săn” những cá nhân bất đồng chính kiến hoặc vận động cho tự do, dân chủ ở Trung Quốc như vụ bắt cóc Michel Gui tại Thái Lan, hoặc Howard Lam ở Hông Kông.
Giống như “người anh phương Bắc”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đẩy mạnh chiến dịch chống tham nhũng mà người Việt thường ví von là “đốt lò”, trong đó cũng có “săn cáo” ở một số nơi.
Tuy nhiên khác với Trung Quốc, tất cả các vụ bắt cóc mà công an Việt Nam thực hiện bên ngoài lãnh thổ đều không phải là truy tìm - cưỡng bức những cá nhân tham nhũng, tội phạm kinh tế về quy án, nạn nhân các vụ bắt cóc, kể cả Trịnh Xuân Thanh (đã bị phạt do tham nhũng) đều nhằm củng cố quyền lực chính trị nên đã gây hệ luỵ rất xấu trong quan hệ quốc tế, kể cả vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, Trương Duy Nhất và mới đây là Đường Văn Thái.
Phải nói thẳng rằng việc cưỡng bức ai đó , đưa họ từ bên ngoài vào bên trong lãnh thổ để xét xử là vi phạm luật pháp quốc tế .
Ngày 23/10/2010, Đại hội đồng LHQ đã thông qua một công ước quốc tế về Bảo vệ mọi người không bị mất tích do cưỡng bức” (International Convention for the Protection of All Persons from Enforced Disappearance). Điều 1, khoản 2 của công ước này minh định, không thể viện dẫn bất cứ lý do nào để biện minh cho việc bắt cóc hoặc thủ tiêu. Điều 3 của công ước này còn yêu cầu các quốc gia điều tra và đưa những người, những nhóm đã tiến hành bắt cóc ra trước công lý.
Tuy không thừa nhận đã bắt cóc nhưng do tin điều đã làm là… chính đáng, nên một số cá nhân có liên quan đến hoạt động bắt cóc do chính quyền Việt Nam thực hiện đã khoe chuyện được Nhà nước vinh danh bởi đưa Trịnh Xuân Thanh về nước - ít nhất đã có 12 chiến sỹ được tặng huân chương chiến công nhất, nhì và ba vì “có thành tích xuất sắc tham gia kế hoạch VT17”.
Vậy chẳng lẽ cứ tội phạm trốn ra nước ngoài thì không thể đưa về được hay sao?
Dẫn độ và hỗ trợ tư pháp quốc tế
Trong quan hệ quốc tế, các quốc gia có thể thiết lập Hiệp định tương trợ tư pháp (Mutual Legal Assisstance Treaty – MLAT). Đa số MLAT là song phương nhằm hỗ trợ nhau giải quyết các vấn đề về tư pháp cả trong lĩnh vực dân sự lẫn hình sự.
Nội dung chính của các h iệp định tương trợ tư pháp thường xác lập cách thức trợ giúp lẫn nhau trong việc tống đạt giấy tờ đến các đương sự, ủy thác điều tra, thu thập thông tin, chứng cứ, chuyển giao đồ vật, tài sản, dẫn độ công dân, công nhận và thi hành các bản án của nhau.
Cho đến cuối năm 2022, Việt Nam đã ký kết hơn 60 điều ước quốc tế và 25 hiệp định tương trợ tư pháp hình sự đang có hiệu lực thi hành trong khi Mỹ có 19 hiệp định tương trợ tư pháp đang có hiệu lực. Việt Nam chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp nào với Thái Lan nhưng các quốc gia trong ASEAN có một điều ước về tương trợ tư pháp hình sự.
Theo Luật tương trợ tư pháp của Việt Nam (số 08/2007/QH12) thì nguyên tắc tương trợ tư pháp phải “được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi ”.
Trong trường hợp chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì phải hoạt động trên nguyên tắc “có đi có lại”, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế.
Xét trên bề nổi và căn cứ vào công pháp quốc tế thì rõ ràng vụ bắt cóc Trương Duy Nhất và Đường Văn Thái tại Thái Lan là vi phạm chủ quyền, quyền toàn vẹn lãnh thổ của Thái Lan. Sự việc tương tự cũng đã xảy ra với Trịnh Xuân Thanh tại Đức và đó là lý do Toà án Đức đã bắt các nghi phạm đem ra xét xử. Đã sáu năm nhưng chính phủ Đức và một số quốc gia ở châu Âu như Slovakia vẫn đang tiếp tục điều tra và truy nã những tội phạm bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, xâm hại chủ quyền của họ.
Bởi vậy, không thể loại trừ khả năng Thái Lan cũng điều tra và đem những kẻ bắt cóc Đường Văn Thái ra xét xử như vụ Trịnh Xuân Thanh. Dựa trên những gì đã biết, có hai tình huống có thể xảy ra từ phía Thái Lan:
Thứ nhất: Nếu Việt Nam đã thông báo và Thái Lan xem Đường Văn Thái chỉ là một tội phạm hình sự, họ có thể bắt giữ và trao cho phía Việt Nam. Điều đó có thể giúp Thái Lan nhận lại những công dân Thái đang ẩn náu tại Việt Nam vì chống chính quyền Thái hiện tại theo phương thức “có qua có lại”.
Thứ hai là phía Việt Nam chủ động bắt cóc, thực hiện một chuyên án giống như “Kế hoạch VT17” với Trịnh Xuân Thanh vào năm 2017. Mật vụ của Việt Nam “bí mật” theo dõi và thực thi hoạt động tội phạm ngay trên lãnh thổ Thái Lan, cưỡng bức Đường Văn Thái về Việt Nam, rồi lu loa về việc Thái “xâm nhập trái phép”. Ông sẽ chỉ bị phạt hành chính về hành vi này nhưng sau đó sẽ bị khởi tố, truy tố và xét xử bởi một điều khoản khác trong chương các tội phạm về an ninh quốc gia của Bộ Luật hình sự.
Tình huống này sát diễn biến thực tế vì cảnh sát Thái Lan từng bảo với báo chí Thái Lan rằng họ đã liên lạc với Việt Nam để yêu cầu cung cấp thông tin nhưng Việt Nam “chưa trả lời” và sau khi loan báo Đường Văn Thái bị bắt vì “xâm nhập trái phép”, cảnh sát Thái Lan thắc mắc Việt Nam không nói gì thêm về Đường Văn Thái, kể cả công bố quyết định định khởi tố.
Hệ luỵ của việc bắt cóc và can thiệp nội bộ
Việc Trương Duy Nhất và nay là Đường Văn Thái bị bắt cóc đã tạo nên tiền lệ nguy hiểm.
Hiện nay đang có rất nhiều người vận động cho tự do, dân chủ tại Việt Nam bị truy bức đến mức phải đào thoát sang Thái và tạm cư tại đó để chờ được cứu xét tị nạn ở nước thứ ba. Họ có nguy cơ đột nhiên “mất tích” rồi xuất hiện trong một nhà tù ở Việt Nam và không thể biết họ là nạn nhân của một vụ “bắt cóc ” hay là kết quả từ, rất có thể, sự “tương trợ ngầm” theo kiểu “có đi có lại” giữa hai chính quyền Việt – Thái?
Vấn đề bây giờ là các tổ chức nhân quyền và các cá nhân đang tạm cư chờ tị nạn tại Thái Lan phản đối mạnh mẽ đến mức nào, có theo sát - thúc đẩy lời hứa sẽ điều tra của cảnh sát Thái Lan về những trường hợp như từng xảy ra đối với Trương Duy Nhất và Đường Văn Thái đồng thời yêu cầu công khai kết quả điều tra để xác định sự thực thế nào?
Chỉ khi hai sự kiện này được bạch hóa và công chúng được biết chính xác, những người đã “mất tích” là nạn nhân của riêng chính quyền Việt Nam hay là nạn nhân của sự hợp tác ngấm ngầm trái với luật pháp quốc tế giữa Việt Nam hay Thái Lan để triệt hạ các tiếng nói từ nước này “chống lại” nước kia như đã khẳng định trong tuyên bố chung Việt-Thái thì mới có các hành động tiếp theo.
Như chúng ta cũng đã biết, gần đây đài VOA đã phát đi một phóng sự đăc biệt về việc chính quyền Nga mượn tay Việt Nam đàn áp kiều dân phản đối chiến tranh tại Ukraine. Mặc dù Việt Nam đã bác bỏ nhận định đó nhưng các nhân chứng trưc tiếp vẫn đang hiện diện và những nghi vấn vẫn tiếp tục được củng cố. Trong quá trình trao đổi thì đại diện phía Viêt Nam đều khẳng định sẽ không cho bất cứ cá nhân nào “sử dụng Việt Nam” để chống lại nước khác (chống lại Nga).
Cùng với việc khi Australia phát hành đồng tiền xu có hình quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà, Việt Nam lên tiếng phản đối, đồng thời yêu cầu “dừng lưu hành”. Đây có lẽ là bước leo thang mới về việc các quốc gia can thiệp vào nội bộ của nhau và không loại trừ sẽ có những nạn nhân mới nếu chúng ta không lên tiếng mạnh mẽ đòi bạch hoá.
Nguồn: Bài đăng trên VOA tại đường link sau: https://www.voatiengviet.com/a/vu-duong-van-thai-va-nhung-he-luy/7095481.html





