Tuesday, February 13, 2024

QUAN HỆ VIỆT MỸ: CHÍNH TRỊ THỰC DỤNG VÀ CƠ HỘI CHO VIỆT NAM

  

 

Quan hệ Việt Mỹ đã trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử và hiện nay đang tiến dần đến một ngưỡng quan trọng và có ý nghĩa, đòi hỏi cao và thách thức các giá trị của các bên. Nhân chuyến đi 2 ngày của Tổng thống Biden đến Viêt Nam vào trung tuần tháng 9 này, chúng ta cần có những phân tích thấu đáo và dự báo nghiêm cẩn về mối quan hệ này. 

 

Nhu cầu của cả 2 bên Mỹ - Việt

 

Thực tế chiến lược “Xoay trục sang Châu Á” đã được hình thành từ thời tổng thống Barack Obama và vẫn tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ bởi tổng thống Joe Biden. Những kết hợp như QUAD[1] (tứ giác kim cương gồm Nhật, Ấn, Mỹ, Úc) hay TPP trước đây cũng không nằm ngoài chiến lược để thúc đẩy hợp tác giữa các đối tác và kiềm chế sức mạnh đang lên của Trung Quốc. 

 

Ngoài một số chiến lược lớn toàn cầu, Hoa Kỳ liên tục tìm kiếm những đồng minh mới, ở dạng “vùng đệm” gần hơn với Trung Quốc mà những cuộc thảo luận gần đây với Hàn Quốc, Phillipines, Việt Nam và cả Campuchia đã cho thấy điều đó. Với vị trí đặc biệt và lịch sử đầy chông gai với Trung Quốc, Việt Nam không thể không thu hút sự chú ý lớn lao của Hoa Kỳ.

 

Đối với Việt Nam thì tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã gặp những thách thức lớn khi không giải quyết được vấn đề tham nhũng và tình hình kinh tế đang trì trệ. Trong khi tuổi đang trở nên cao và không thể cầm quyền mãi được, ông buộc phải chấp nhận “binh” những đường banh mới, hầu gia tăng uy tín chính trị và tìm kiếm cơ hội phát triển kinh tế cho đất nước. 

 

Khả năng kiểm soát quyền lực của ông Trọng bằng những lời rao giảng đạo đức đang dần dần chết khô giữa một xã hội mà tính lý tưởng đã trở nên cạn kiệt. Hầu hết các quan tham hủ bại mới ra toà gần đây đều từng giáo huấn, thậm chí viết sách[2] về chống “diễn biến” và có những lời dạy kinh điển về đạo đức. Lối giáo huấn suông đã rất lỗi thời và bị thực tế phủ nhận trên mọi phương diện. 

 

Vì thế, việc nâng cấp là bước tiến quan trọng và có lợi cho cả đôi bên. Đối với Mỹ là tính kế lâu dài, đối với Việt Nam là ưu tư trước mắt. Hoa Kỳ cần an ninh khu vực, thích thú ngắm bãi biển “dài và đẹp” hơn 3,200 km với nhiều cảng nước sâu ưu việt có thể sử dụng đa mục đích, trong khi Việt có thêm một phương tiện vừa thu lợi được kinh tế và vừa cân bằng được với mối quan hệ đối với Trung Quốc và Nga, đồng thời nâng tầm của mình trong toàn khu vực. 

 

Ý đồ của Trung Quốc và bước đi của Việt Nam

 

Việt Nam hiểu rõ dã tâm của Trung Quốc khi mới đây ngoại trưởng Vương Nghị đã đề nghị Việt nam duy trì lý tưởng cộng sản[3], bảo vệ an ninh chế độ và chống lại sự can thiệp từ các thế lưc bên ngoài, trong khi khẩn trương tiến hành các hoạt động quân sự hoá trên đảo Tri Tôn. Kiểu nói “một đàng làm một nẻo” thì các quan của Việt Nam cũng đều ở bậc thượng thừa, cho nên họ đọc vị nhau rất kỹ. 

 

Báo chí chính thống của Việt Nam vô cùng dè dặt trong việc lên tiếng cụ thể về chuyến đi mặc dù mọi thứ đã chính thức. Thực tế thì trước đó hai bên đã tiến hành các bước đi rất cẩn thận và chi tiết. Sau chuyến đi của Ngoại trưởng Hoa Kỳ đến Việt Nam vào tháng 4 thì Trưởng ban đối ngoại trung ương Lê Hoài Trung đã đến Washington DC vào cuối tháng 6, gặp cả Ngoại trưởng Anthony Blinken và cố vấn an ninh quốc gia Jake Sullivan và hai bên đã bàn bạc nhiều vấn đề về quan hệ hai nước và cả chuyến đi của tổng thống. 

 

Có lẽ để tôn trọng Việt Nam và cũng đề phòng những bất trắc như trong chuyến đi của Phó tổng thống Kamala Harris vào năm 2021, trong thông báo của Nhà trắng ban đầu cũng chỉ đề cập đến việc Tổng thống Biden đi dự hội nghị G20 từ ngày 4-7 tháng 9 và phó tổng thống Kamala Harris đi dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Jarkata. Mãi cho đến ngày 28/8, thì mới có thông báo về chuyến đi Việt Nam vào ngày 10/9[4].

 

Việc Joe Biden đi thăm Việt Nam ngay sau khi dự hội nghị G20 trong khi không dự thượng đỉnh Jarkata cách đó không xa thể hiện một uy thế đặc biệt của Việt Nam trong khu vực. Tất cả các bên đều nhận thức rõ rằng Việt Nam là một thách thức chính yếu của Trung Quốc trong việc bành trướng lãnh thổ và chủ quyền ở biển Đông Nam Á và Trung Quốc sẽ coi bước đi của Biden như là một hành động táo bạo và đầy ưu ái cho một “quân cờ” mới. 

 

Việt Nam cũng có cách của mình. Vừa im lặng để đi xa nhưng cũng ý thức rõ về tránh nhiệm mới, vị thế mới của mình nên đang hết sức thận trọng trong mối quan hệ này. Để có thể cân bằng và pha loãng một sự liên kết mới với Hoa Kỳ, Việt Nam cũng đã muốn gia nhập khối BRICS và chuẩn bị ký “Đối tác chiến lược”[5] với Australia. Báo chí trong nước cũng liên tục nói về sự “đối tác chiến lược toàn diện với Singapore. 

 

Mèo trắng – Mèo đen và chính trị thực dụng

 

Chính trị luôn có sự phiêu lưu và sức hấp dẫn riêng của nó. Nhưng loài người đang trở nên nhanh và ranh hơn trên tất cả các phương diện. Đồng thời sự mập mờ về chủ nghĩa và trỗi dậy của thực tế Trung Quốc đang đặt ra những mâu thuẫn lớn về lý thuyết và thực tiễn, về nói và làm, về khả năng phân biệt đúng và sai, tốt và xấu... trong nền chính trị toàn cầu.   

 

Hoa Kỳ hiện cũng đang thực thi một chính sách chính trị thực dụng và điều đó ít nhiều có mâu thuẫn với các giá trị mà Họ vẫn thường đề cao. Các giá trị như “Tự do, dân chủ và Nhân quyền” luôn được người Mỹ cổ suý nay có thể tạm bị gác một bên cho những chương trình hành động thực tế hơn. Vào độ tuổi 100 của mình, Henry Kissinger vẫn tiếp tục thăm người bạn “tri âm” Trung Quốc và nói về việc hợp tác Mỹ Trung. Nhiều người Mỹ vẫn tiếp tục coi ông là chiến lược gia của thế giới trong thế kỷ 21 với cách tiếp cận đầy thực dụng. 

Câu chuyện “mèo trắng hay mèo đen” có vẻ như không chỉ là của Trung Quốc. Nhưng rõ ràng nếu không giải quyết những vấn đề vi phạm nhân quyền của Việt Nam hay Trung Quốc thì Hoa kỳ cũng sẽ gặp phải những thách thức từ các đồng minh của mình. Người ta sẽ hiểu như thế nào về quan điểm của người Mỹ đối với một Việt Nam cộng sản, đang là đàn em thực sự của Trung Hoa cộng sản? Tiêu chuẩn kép (Double standard) trải rộng từ đông sang tây và kéo dài từ quá khứ sang hiện tại, vẫn tiếp tục được chính quyền Biden phát huy mạnh mẽ?

Việt nam cũng thế nhưng công khai và thách thức hơn. Khi ký kết hiệp định thương mại với EU, Việt Nam sẵn sàng sửa luôn cả luật lao động, cho phép thành lập “công đoàn độc lập” để hài lòng các đối tác. Nhưng trong thực tế thì không, sau hơn 3 năm trôi qua, không một tổ chức công đoàn độc lập nào được ra đời, mà ngược lại, xã hội dân sự ngày càng bị tấn công, thu hẹp. Trong những năm vừa qua, chính quyền Việt Nam đã bắt đến 6 giám đốc[6] thuộc VUSTA là cơ quan “ô dù” của các tổ chức xã hội “bán nhà nước”. Còn Hoa Kỳ, liệu có quá tự tin khi khi lao vào một cuộc chơi không phải sở trường của mình? 

Dù sao khi các bên đã bước qua quá khứ để dấn bước trong hiện tại, hướng tới tương lai. Đây là một hành động hoàn toàn hợp xu thế tiến bộ và điều này là mong ước của rất nhiều tầng lớp nhân dân Việt Nam hiện nay.  

Hiểm nguy có rình rập đôi bên? 

 

Nhân loại đã sững sờ khi thấy sự hài hoà tuyệt vời giữa “đầu tư tư bản” và “chuyên chế cộng sản” tại Trung Quốc và Việt Nam trong suốt 20 năm qua, nay thì có lẽ không quá bất ngờ khi ngoại giao “cây tre” đang vờn quanh cùng “cây gậy” nhỏ và một “củ cà rốt” to tướng. 

 

Cũng sẽ vô cùng hoà hợp, như con rắn cuộn quanh cây gậy của thần Asclepios, vươn lên một chiếc ly đựng dược liệu, trong biểu tượng của ngành y. Hình ảnh đó không chỉ tượng trưng cho sự khôn ngoan và sức khoẻ mà còn ám chỉ khả năng giải quyết những vấn đề nhức nhối nhất của mối bang giao: “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” như lời của cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng nói trong mối quan hệ với Trung Quốc. Vừa hợp tác, vừa đấu tranh với bên này, trong một quan hệ “tay ba” thì đồng nghĩa với bên kia cũng phải “vừa hợp tác, vừa đề phòng”. 

 

Khi viết những dòng này, tôi nhớ đến ly rượu “mao đài” sóng sánh mà Mao Trạch Đông đã uống cạn cùng Nixon trước khi ký “Tuyên cáo chung Thượng Hải” vào năm 1972. Chuyến thăm bắt đầu từ một cuộc “Ngoại giao bóng bàn” mà sau đó các nhà báo đã ví von “trái bóng nhỏ” (bóng bàn) đã làm thay đổi trái bóng lớn (trái đất).  Sau hơn 50 năm, từ một cuộc chia chác lịch sử của các cường quốc, Hoa Kỳ chợt nhận ra rằng Trung Quốc đã thực sự đã lớn mạnh và trở thành một đối thủ tiềm tàng không thể tránh khỏi. Hai con dê này đang đi qua một chiếc cầu hẹp và có vẻ như không tránh nhau. 

 

Cũng bởi vậy mà có hàng loạt động thái “dồn dập” để nâng cấp quan hệ ngoại giao như đang xảy ra. Liệu Việt Nam lại có tiếp tục đi vào quỹ đạo của những nước lớn mà biết đâu lại trở thành một tiền đồn của những cuộc chiến tranh uỷ nhiệm trong tương lai?

 

Quyết định có nuôi dưỡng lòng phản trắc?.

 

Trong hoàn cảnh lúc này, Việt Nam như một cô gái đa tình có thể “bắt cá 2 tay” nhưng giả sử có một cuộc chiến tranh xảy ra, dù trên Biển Đông, ở Đài Loan hay bất cứ một nơi nào khác quanh khu vực, Việt Nam rất có thể buộc phải chọn bên như đã từng chọn bên. 

 

Khi đó, một Việt Nam đang “bắt cá 2 tay” có thể lại trở nên cực kỳ nguy hiểm khi tự nó đã nuôi dưỡng cả “sự thuỷ chung” và “lòng phản trắc” trong các mối quan hệ. Rất có thể quyết định bắt cá hai tay của Việt Nam hôm nay sẽ “xé” Việt Nam ra làm đôi, vào thời điểm bất ngờ nhất của ngọn triều lịch sử như nó đã từng xảy ra. Còn Hoa Kỳ và Trung Quốc, họ vẫn luôn là một nước lớn, họ sẽ chơi ván lớn với những người chơi xứng tầm? 

 

Lịch sử thì phiêu du và không ai có thể dự báo được, nhưng có một điều chúng ta có thể làm được là đất nước mình phải thực sự mạnh lên. Nhân dân được tự do, ấm no, đất nước được phát triển và thịnh vượng. Có như vậy thì chúng ta mới giữ được chủ quyền, bảo vệ sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của mình trong thế đứng của toàn nhân loại. Đó là lúc chúng ta có thể tự hào được “sánh vai với các cường quốc năm châu” mà không phải “ngả nghiêng” kiểu cây tre. 

 

 

 

 

 

 

 



[1] https://en.wikipedia.org/wiki/Quadrilateral_Security_Dialogue

[2] https://vtc.vn/ong-truong-minh-tuan-nhan-hoi-lo-cuon-sach-phong-chong-tu-dien-bien-tu-chuyen-hoa-do-ong-chu-bien-co-bi-thu-hoi-ar496224.html

[3] https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-66541341

[4] https://www.rfi.fr/vi/quốc-tế/20230829-nhà-trắng-thông-báo-tổng-thống-mỹ-biden-công-du-việt-nam-thắt-chặt-quan-hệ-song-phương

 

QUAN HỆ VIỆT MỸ: NHÂN QUYỀN CÓ ĐƯỢC CẢI THIỆN QUA CHUYẾN THĂM?



Mặc dù chưa một tờ báo chính thống nào trong nước đề cập, các nguồn tin ngoại giao quốc tế đã khẳng định sẽ có một chuyến đi của tổng thống Biden đến Việt Nam vào trung trung tuần tháng 9. 

 

Chuyến đi là để “nâng cấp quan hệ” với Việt Nam. Tuy hai bên đang đặt ra những vấn đề lớn hơn là an ninh khu vực và hợp tác kinh tế, nhưng nhân quyền vẫn là một giá trị căn bản mà Hoa Kỳ thường lên tiếng cổ suý và cần được phân tích. Vậy thực chất nó như thế nào và hai bên sẽ vượt qua trở ngại này để hướng đến tương lai như thế nào?  

 

Việt Nam có tôn trọng nhân quyền? 

 

Việt Nam là quốc gia do một đảng cộng sản duy nhất lãnh đạo. Điều 25 Hiến pháp Việt Nam khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” nhưng các quyền này không được triển khai trong thực tế. Hầu hết các công dân thực hành quyền này mà không được nhà nước cho phép đều đối mặt với các án phạt tù dài hạn; các nhà báo phải tự kiểm duyệt một cách nghiệm ngặt nhất; xã hội dân sự không thể phát triển. 

 

Vào năm 2015, Việt Nam đã thông qua bộ luật Hình sự với nhiều điều khoản vừa “khái quát” vừa “mơ hồ” để có thể bắt giữ các nhà hoạt động mà chính quyền cho là “chống nhà nước”. Luật An Ninh mạng cũng được quốc hội chính thức thông qua vào ngày 12/6/2018, tạo cơ sở cho rất nhiều vụ xử phạt về hành chính nhiều công dân khi đang thực hành quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng. 

 

Những vi phạm nhân quyền nặng nề hơn như: “giết người phi pháp, đối xử tàn ác, ngược đãi, giam giữ tuỳ tiện…” cũng được mô tả khá chi tiết trong Báo cáo Nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. 

 

Quyền tự do tôn giáo cũng bị vi phạm nghiêm trọng. Chính quyền địa phương ngăn cản các giáo phái tin lành ở Tây Bắc và Tây Nguyên; nhiều hệ phái tin lành và nhóm tu tập tại gia không được công nhận, thậm chí liên tục bị sách nhiễu; một số nhà thờ Công giáo bị chính quyền địa phương vào giải tán, tịch thu kinh thánh và yêu cầu linh mục về trụ sở công an xã làm việc trong khi đang thi hành thánh lễ. 

 

Theo trang web của dự án 88 (The 88 project) thì Việt Nam hiện đang cầm tù gần 200 tù nhân lương tâm (là những người bị cầm tù vì lý do chính trị hoặc tôn giáo), hơn 300 người khác thường xuyên đối mặt với những “rủi ro”, bị đàn áp với nhiều cách thức khác nhau như theo dõi, cấm đi lại, quấy rối chỗ ở và công ăn việc làm…Trong những năm gần đây, hoạt động bắt bớ ngày càng gia tăng với mức án ngày càng nặng hơn.

 

Tuy vậy, chính quyền Việt Nam vẫn luôn nói là họ tôn trọng nhân quyền và chỉ bắt giam những người vi phạm “pháp luật hình sự” đồng thời phê phán các đánh giá về nhân quyền của Hoa Kỳ là phiến diện, thiếu khác quan, dựa vào những thông tin không chính xác. 

 

Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người nhưng luôn giải thích và áp dụng các vấn đề này trong thực tiễn gắn liền với các “giá trị” của tập thể. Chính quyền Việt Nam nhấn mạnh quyền làm chủ của Nhân dân, quyền dân tộc tự quyết…và liên tục phản bác lại quan điểm mà họ cho rằng phi lý là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Gần đây Việt Nam còn đưa các thông số về việc “nâng cao đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo, tiếp cận y tế, giáo dục và nước sạch” như là những thành tố quan trọng trong báo cáo về nhân quyền cho các tổ chức quốc tế.

 

Có còn “quà” trong hành xử ngoại giao? 

 

Kể từ những năm 1990s, trong các cuộc đàm phán về quan hệ Việt - Mỹ, vấn đề Nhân quyền luôn được nhắc tới. Thông thường, trước khi có một sự kiện hợp tác lớn hoặc chuyến thăm của các lãnh đạo cao cấp, phía Việt Nam đều thả một vài tù nhân lương tâm để coi như là một món quà nhỏ. Tuy nhiên, thông lệ đó gần đây không còn được lặp lại một cách xứng đáng. 

 

“Quà” của Việt Nam cho cuộc gặp lần này, nếu có, chỉ là một tù nhân lương tâm nào đó, có thể là Phạm Đoan Trang được thả và/hoặc ai đó được đi ra nước ngoài. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng Việt Nam có thể thả một người và sau đó bắt lại 2-3 người. Ví dụ như ngay thời điểm Anthony Blinken đi thăm Việt Nam, gia đình chị Phạm Thanh Nghiên được lên đường đi Mỹ nhưng chỉ trước đó 1-2 ngày, Youtuber Đường Văn Thái bị mât tích tại Thái Lan và sau đó xuất hiện ở Nhà giam Việt Nam và bị truy tố theo Điều 117 Bộ Luật Hình sự. 

 

Những tuyên bố về nhân quyền trong các chuyến thăm cũng không còn được mạnh mẽ. Các nhân viên đại sứ quán trước đây thường công khai gặp gỡ và chụp ảnh chung với những nhân vật bất đồng chính kiến, nhưng gần đây họ ưa thích một buổi ăn trưa riêng tư nhằm tìm hiểu thông tin và tìm cách an ủi hơn là sự khích lệ. Danh sách khách mời trong những dịp như quốc khánh hoặc kỷ niệm lớn của các quốc gia phương tây đã hướng về những nhân vật “ít nhạy cảm” hơn đối với chính quyền Việt Nam. 

 

Ví dụ, trong chuyến đi thăm của ông Obama, Việt Nam chỉ chấp nhận một cuộc gặp gỡ với những người ôn hoà “thuộc xã hội dân sự” nhưng cuối cùng thì những người Việt Nam không muốn cho gặp cũng không thể đến được. Tuy nhượng bộ như vậy nhưng rồi các nhóm xã hội dân sự cũng dần dần bị bắt hết mà ngôn ngữ ngoại giao về những vi phạm này vẫn không được cất lên rõ ràng. 

 

Ngay trong chuyến đi của phó tổng thống Hoa Kỳ, Kamala Harris vào năm 2021, bà đã “lòng vòng” về vấn đề nhân quyền khi các nhà báo đặt câu hỏi. 

 

Mỹ có thể giảm nhẹ hoặc lờ đi những vấn đề nhân quyền với Việt Nam để sát cánh hơn nữa với Việt Nam trong một tầm cao quan hệ mới. Tuy nhiên, nếu như Hoa Kỳ rời bỏ những giá trị cốt lõi của mình, thì người dân và ngay cả một số lãnh đạo của Việt Nam cũng sẽ đánh giá thấp, thậm chí gia tăng sự nghi ngờ với chính quyền Hoa Kỳ. Bởi họ nghĩ “điều cốt lõi” mà các ông vẫn có thể bỏ qua thì cũng có thể “hy sinh” những cam kết của mình bất cứ lúc nào. 

 

Nhân quyền có cải thiện qua chuyến thăm?

 

Có thể nói thẳng rằng không có những bước tiến vượt bậc nào về nhân quyền trước, trong và sau chuyến đi của tổng thống Biden. Cấp quan hệ ngoại giao “Đối tác Chiến lược”, nếu được xác lập qua tuyên bố chung của 2 lãnh đạo, có thể có một số câu kiểu như “Chúng tôi cho rằng quyền con người là cần thiết để phát huy tiềm năng của người dân Việt Nam”. Nếu có yêu cầu Việt Nam “tuân thủ các điều ước quốc tế về Nhân quyền”, thì đồng thời cũng khẳng định rằng Mỹ “tôn trọng chế độ chính trị và sư lựa chọn của nhân dân Việt Nam”

 

Còn việc đi xa hơn như đòi hỏi Việt Nam thay đổi luật pháp, bãi bỏ Điều 109, Điều 117 hay 331 trong Bộ luật hình sự; công nhận xã hội dân sự và công đoàn độc lập là điều bất khả thi. Thậm chí một cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Hoa Kỳ với các tổ chức “xã hội dân sự độc lập” kiểu thời Obama cũng khó có khả năng xảy ra, hoặc toàn gặp người của “nhà nước”.  

 

Những đòi hỏi về việc trừng phạt, cấm vận hoặc bắt giữ đối với các cá nhân quan chức bộ công an Việt Nam vi phạm nhân quyền chỉ là những gợi ý lý thuyết của các nghị sỹ hoặc tổ chức nhân quyền. Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam (HR 3172) vẫn sẽ nằm chờ hững hờ ở đâu đó trên bàn làm việc của các hạ nghị sỹ lưỡng đảng cho đến tận sau chuyến đi rất lâu và rất khó thành luật. 

 

Về đường dài, việc gắn kết gần gũi hơn với Hoa Kỳ và các nước phương tây có thể tạo nên được những nhận thức mới của lãnh đạo đảng cộng sản. Họ sẽ thấy rằng Mỹ và các nước phương tây quan tâm đến an ninh khu vực và sự thịnh vượng chung chứ không phải là một âm mưu dùng “lá bài nhân quyền” để lật đổ chính quyền cộng sản như họ thường tự nghĩ. 

 

Các lãnh đạo cũng sẽ thấy rằng việc xây dựng pháp quyền, mở rộng nhân quyền không làm suy giảm quyền lực của chính mình, kết hợp với đòi hỏi của người dân trong nước rồi hy vọng sẽ tạo ra những ghi nhận thành tích nhân quyền tốt hơn. 

 

Còn trước mắt, chuyến đi, nếu có, sẽ không đem lại một sự thay đổi đáng kể nào. 

 

 

 

 

 

 

QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ: CÓ THỰC MỘT LÒNG TIN CHIẾN LƯỢC?

 


Đã có rất nhiều nghiên cứu chi tiết về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, và trong một bài báo nhỏ này không thể nêu hết được. Tuy nhiên, nhân dịp các bên đang thảo luận về việc “nâng cấp quan hệ”, chúng ta có thể điểm qua một số nét xác định “duyên” giữa 2 quốc gia. 

 

Những cơ hội bị bỏ lỡ

 

Vào năm 1787, vị tổng thống nổi tiếng thứ 3 của Hoa Kỳ, khi đang làm đại sứ Mỹ tại Pháp đã gặp hoàng tử Cảnh của Việt Nam. Ông đã ngỏ ý ghé thăm để xin giống lúa nước ở Việt Nam đưa về trồng ở trang trại ở Bang Virginia. Tuy nhiên, do thời thế thay đổi, Vua Nguyễn Phúc Cảnh mất sớm nên việc gặp gỡ bang giao đã bị bỏ lỡ. 

 

Thương thuyền Frame của Hoa Kỳ là con tàu đầu tiên cập cảng Đà Nẵng vào tháng 5/1803 để rồi sau đó có hàng loạt chuyến thuyền khác đến tìm kiếm và trao đổi hàng hoá nông sản với Việt Nam. Tuy nhiên, nỗ lực ký kết Hiệp định thương mại và bang giao giữa hai nước vào năm 1832 đã không thành công vì chính sách “bế quan toả cảng” của Nhà Nguyễn. Một cơ hội quan trọng nữa đã qua đi. 

 

Vào năm 1945, nhờ vào sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của mình, Hồ Chí Minh đã trực tiếp sang tận Côn Minh (TQ) trao trả phi công William Shaw cho tướng Clare Chennault, qua đó thiết lập mối quan hê giữa Việt Minh và OSS (tiền thân là CIA). Toán đặc nhiệm “Con Nai” thuộc cơ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ đã ra đời, giúp đỡ Việt Minh rất nhiều, cả vũ khí và thông tin, đặc biệt tình hình chiến tranh và việc Nhật đầu hàng Mỹ, qua đó khởi nghĩa để “cướp chính quyền”. 

 

Tiếc rằng sau đó người Mỹ đã thấy chất “cộng sản” trong Việt Minh nên hàng loạt thư và điện mà Hồ Chí Minh gửi cho tổng thống Mỹ Harry Truman đã không được hồi âm. Cơ hội làm bạn đã không còn mà 2 bên trở thành kẻ thù trong cuộc chiến khốc liệt nhất của loài người nửa sau thế kỷ 20. 

 

Cấp bậc ngoại giao nào hướng tới ?

 

20 năm sau khi kết thúc chiến tranh, Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hoá quan hệ. Vào năm 2000, Tổng thống Clinton lần đầu tiên thăm Việt Nam từ sau 1975 và 13 năm sau đó, Tổng thống Barack Obama và chủ tịch nước Trương Tấn Sang công bố “Xác lập quan hệ Đối tác toàn diện”. Sau 10 năm là đối tác toàn diện, giờ đây các bên đang bàn về việc “nâng cấp quan hệ” trong chuyến thăm sắp tới của tổng thống Joe Biden?. 

 

Vậy các cấp bậc quan hệ trong ngoại giao là như thế nào? 

 

Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu bàn về quan hệ ngoại giao giữa các nước, nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về các khái niệm. Tại Việt Nam, sau gần 20 năm nghiên cứu phát triển, vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng với các nội hàm cụ thể về “Đối tác chiến lược”, “Đối tác toàn diện” và “Đối tác chiến lược toàn diện”. Tất cả các khái niệm này là do 2 phía thảo luận, đặt ra và được hình thành qua sự công bố của các lãnh đạo mà không có một quy chuẩn học thuật giống nhau. 

 

Theo  tác giả Nguyễn Thị Thìn, Học viện Ngoại giao, thì cho đến tháng 4 năm 2023, Việt Nam đã có quan hệ “Đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện” với 17 quốc gia trên thế giới. 

 

Trong đó: Đối tác chiến lược toàn diện với 4 nước là Trung Quốc (2008), Nga (2012), Ân Độ (2016) và Hàn Quốc (2022); quan hệ Đối tác Chiến lược với 12 quốc gia. Có quan hệ “đặc biệt” với 3 nước là: Lào, Campuchia và Cuba. Các khái niệm này là do các bên tự xây dựng nội hàm để giải quyết trong quan hệ cụ thể với từng nước. 

 

Đối với Trung Quốc là 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai” và 4 tốt: “Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt”. Đối với Nga là “Độ tin cậy cao; tiếp xúc cấp cao thường xuyên, hợp tác quốc phòng, an ninh sâu sắc, kinh tế thương mại năng động, toàn diện”; Đối với Hàn Quốc thì: “Trao đổi chính trị cấp cao, thương mại cố đạt 100 tỷ, Đầu tư nhiều và ODA cao, giao lưu nhân dân sâu rộng…”

 

Đối với Mỹ có lẽ là quốc gia cựu thù và có quan hệ “Hợp tác toàn diện” muộn nhất, nhưng Việt Nam thực sự đã được hưởng lợi nhiều nhất từ mối quan hệ này. Về chính trị thường xuyên có các cuộc gặp cấp cao, thậm chí tổng thống Hoa Kỳ đã đón tiếp “tổng bí thư” như một nguyên thủ quốc gia mà rõ ràng chỉ là đảng trưởng của một đảng phái chính trị. 

 

Về kinh tế, quốc phòng và an ninh…đều có những hợp tác sâu đậm. Mỹ là nước nhập khẩu nhiều nhất hàng hoá của Việt Nam, đồng thời lên tiếng yêu cầu Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế chấm dứt các hành động “gây hấn đơn phương” khi tàu 981 xâm pham lãnh hải của Việt Nam. 

 

Tên gọi là quan trọng, nội hàm là rất quan trọng nhưng hành động thực chất mới cực kỳ quan trọng. Có nhiều tên gọi khác nhau mà bản chất giống nhau, có nhiều việc tên gọi giống nhau nhưng nội hàm khác nhau. Có việc cả tên gọi và nội hàm giống nhau nhưng thực chất hành xử lại khác nhau. Ví dụ trong vụ tàu 981, Trung Quốc có tên gọi quan hệ ngoại giao cao nhất thì đi gây sự, Nga thì im lặng, trong khi Hoa Kỳ chỉ là “đối tác toàn diện” thì lên tiếng. 

 

Điều đáng lưu ý là đối tác chiến lược, mặc dù được thiết lập song phương nhưng nội hàm luôn bao gồm cả những vấn đề đa phương để các bên thể hiện ra giữa “bàn dân thiên hạ” là “tao đi với thằng này” nhằm góp phần thể hiện uy tín và tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu. 

 

Rõ ràng có được đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ là một điều tốt đẹp cho cả chính quyền và Nhân dân Việt Nam. 

 

Có sự ngờ vực trong “niềm tin chiến lược”?

 

Niềm tin chiến lược – Strategic Trust” được thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề cập tại cuộc đối thoại Shangri-la vào năm 2013. Về mặt ngôn ngữ lý thuyết bài phát biểu được đánh giá cao trong đó khẳng định: “Lòng tin cần được nâng niu, vun đắp không ngừng bằng những hành động cụ thể, nhất quán, phù hợp với chuẩn mực chung và với thái độ chân thành”. Tuy nhiên, sử dụng sáo ngữ cũng là một vấn đề của lãnh đạo Việt Nam trong suốt nhiều năm. “Lời” là vô cùng quan trọng nhưng “đưa ra” dễ hơn và sức nặng cũng ít hơn hành động rất rất nhiều. 

 

Việt Nam và Mỹ đã thực sự chân thành với nhau chưa?. Nói thẳng ra, về mặt chủ nghĩa lý thuyết thì hai bên hoàn toàn ngược nhau. Mỹ là nước tư bản còn Việt Nam là nước cộng sản. Mỹ đa nguyên, Việt Nam một đảng. Đó là chưa nói đến hàng loạt vấn đề về tổ chức chính quyền, văn hoá và nhân chủng khác nhau. 

 

Đồng thời, do những cơ hội bị bỏ lỡ và những uẩn khúc trong quá khứ, như những vết thương chưa lành trong tâm trí của nhiều người. Nhiều lãnh đạo Việt Nam vẫn coi Hoa Kỳ là không đáng tin cậy. Ngược lại người Mỹ cũng rất thận trọng với một quốc gia “cộng sản”, và điều này là hợp lý cả về cảm xúc và lý trí.  

 

Nước Mỹ thường phản ứng nhanh và mạnh trong các chuyển động chính trị thế giới nhưng họ ít kiên nhẫn để chờ đợi cho những mục tiêu mờ nhạt, thậm chí cố gắng rút ra nhanh nhất trong bất cứ sự can thiệp nào nếu cảm thấy nó bị sa lầy. Việt Nam thì mềm dẻo và kiên nhẫn hơn trong rất nhiều việc, có nhiều lúc rất “cố đấm ăn xôi”. 

 

Có không việc “Bây giờ hoặc không bao giờ”?

 

Giáo sư Carl Thayer từ Học viện Quốc phòng của Úc, trong cuộc trả lời phỏng vấn với RFA đã cho rằng “việc nâng cấp với quan hệ với Hoa Kỳ: “bây giờ hoặc không bao giờ”. Cho nên, nếu Việt Nam dám quyết định thì đây là thời điểm tốt nhất để ít nhất có 3 mối quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện” với cả 3 thành viên thường trực của Liên Hiệp Quốc”. 

 

Với vị thế đó “cây tre” có ngả nghiêng thì cũng không thể một kẻ nào dám nhổ bật gốc; Với vị thế đó cô gái xinh đẹp có thể “lả lơi” nhưng cũng không chàng nào đưa ra các tiêu chuẩn về lòng chung thuỷ mà chia tay. 

 

Phía Mỹ có vẻ đã sẵn sàng. Vấn đề là lãnh đạo Việt Nam có đặt quyền lợi dân tộc lên trên “ý thức hệ”, trên “tình hữu nghị viển vông” và trên quyền lợi của Đảng cộng sản hay không?. Chúng ta hãy cùng chờ xem. 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYẾN THĂM CỦA BIDEN VÀ THÁI ĐỘ “BA PHẢI” CỦA VIỆT NAM

 


 

Nằm trong chuỗi kỷ niệm 10 năm Quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ, từ đầu năm đến nay nhiều phái đoàn lãnh đạo Hoa Kỳ đã liên tục đến Việt Nam. 

 

Đầu tiên là chuyến đi của Đại diện thương mại Katherine Tai vào tháng 2/2023. Một tháng sau thì bà Sammatha Power, giám đốc USAID đã đến Hà Nội. Sau chuyến đi nổi bật của Bộ trưởng ngoại giao Antony Blinken vào đầu tháng 4, là đến Bộ trưởng Nông nghiệp Thomas Vilsack và mới nhất là Bộ trưởng bộ Tài chính Jannet Yellen…Nhóm tàu sân bay USS Regan cũng góp mặt 5 ngày với rất nhiều hoạt động giao lưu. 

 

Ngoài các quan chức thuộc hành pháp, các phái đoàn cao cấp ở Quốc Hội cũng tới tấp ghé Việt Nam. Tin tức về Thượng nghị sỹ Mike Crapo, dẫn đầu phái đoàn lưỡng đảng của Thượng Viện đến gặp cả thủ tướng Phạm Minh Chính chủ tịch quốc hội Vương Đình Huệ chưa kịp trôi qua thì đầu tháng 8 vừa qua, Nghị sỹ Jason Smith, chủ tịch uỷ ban Thuế vụ, đã dẫn đầu 7 thành viên lưỡng đảng thuộc Hạ Viện đến thăm và làm việc tại Việt Nam. 

 

Nhưng tin tức nhiều nhất là phái đoàn doanh nghiêp lớn nhất của Hoa Kỳ  với đại diện của hơn 50 công ty, tập đoàn lớn của Mỹ đã đến thăm và làm việc tại Việt Nam.  Hầu hết các phái đoàn đều được giao lưu rộng rãi và bày tỏ sự tôn trọng chủ quyền và thể chế chính trị của Việt Nam, lên tiếng ủng hộ một nước Việt Nam “độc lập, tự cường và thịnh vượng”.

 

Những dấu chỉ đó cho thấy Hoa Kỳ đã thực sự quan tâm đến Việt Nam một cách sâu sắc và thực chất. Hoa Kỳ cũng tin tưởng vào tình hữu nghị với Việt Nam và mong muốn được nâng cấp quan hệ lên một mức cao hơn. 

 

Chuyến bay của Air Force One trong tháng 9 ? 

 

Mới đây, tại buổi gây quỹ ở bang New Mexico, Tổng thống Mỹ Joe Biden cho biết sẽ đến Việt Nam “Trong thời gian sắp tới” với kỳ vọng sẽ nâng tầm quan hệ 2 nước lên “đối tác chiến lược”. Trước đó, ông cũng nói là đã nhận được một cuộc gọi từ “người đứng đầu Việt Nam” và người đó “mong muốn gặp tôi khi tôi tới G20”.

 

G20 sẽ được tổ chức tại New Delhi, của Ấn Độ vào ngày 9 và 10 tháng 9. Khoảng cách đường hàng không từ thủ đô của Ấn độ đến Hà Nội là 4,5 giờ bay, không quá xa cho một chuyến Air Force One. Và một chuyến đi 2 ngày có lẽ cũng đủ để Hà Nội gióng một tiếng nói độc lập vừa phải tới Bắc Kinh. 

 

Mặc dù người ta đã đồn đoán nhiều về chuyến thăm nhưng khi được hỏi thì phát ngôn viên của Nhà Trắng cho biết “chưa có thông tin gì mới để chia sẻ vào thời điểm này”. Trong khi đó hiệp hội các quốc gia ASEAN cũng sẽ họp thượng đỉnh vào đầu tháng 9 tại Jarkata nhưng Reuteur cho hay là tổng thống Biden “có vẻ không tham dự” trong chuyến công du Châu á của mình. 

 

Hà Nội không vội được đâu. 

 

Có vẻ như Ngài Biden đã bộc bạch về chuyến thăm quá nhiều trong bối cảnh Việt Nam chỉ thích im lặng để đi xa. Nghĩa là vừa phải có được lợi ích an ninh và chính trị với Hoa Kỳ nhưng không quá ồn ào để gây khó chịu cho người anh Phương Bắc. 

 

Chúng ta còn nhớ chuyến đi của bà phó tổng thống Kamala Harris vào năm 2021, mang 1 triệu liều Vacine Covid vào giữa tâm dịch như một món quà quý giá vào thời điểm cực kỳ quan trọng nhưng vẫn không đạt được mục tiêu cụ thể nào. Mong muốn nâng cấp quan hệ “đối tác toàn diện” trở thành “đối tác chiến lược” đã không xảy ra. 

 

Chuyến đi thậm chí còn bị “phanh” lại hơn 3h đồng hồ tại Singapore và 2 bên đã xúc tiến việc “tìm kiếm” một vài lý do khả dĩ để huỷ chuyến thăm mà không làm bẽ mặt nhau. Tuy nhiên sau cuộc gặp “thăm dò’ và “báo cáo” với Đại sứ Hùng Ba rằng “Hà Nội không liên kết với một nước này để chống lại nước kia” thì đã được diễn ra. 

 

Tại Hà Nội, Phó tổng thống Kamala Harris đã lật một quân cờ quan trọng đã bị cho là “dưới phân” cộng sản Việt Nam, khi nâng tổng số viện trợ Vaccine lên đến 6 triệu liều mà vẫn ra về với một thành tích vô cùng khiêm tốn. 

 

Về bản chất, Việt Nam thực sự chưa muốn có một “Đối tác chiến lược toàn diện” và liên tục có chiêu “vừa đón vừa chửi khách” trong các hành xử ngoại giao với Hoa Kỳ. Cụ thể là ngay trước khi chuyến thăm cao cấp xảy ra thì Việt Nam vẫn có bài lên tiếng chống Mỹ. Giữa lúc tàu sân bay Mỹ US Ronald Reagan thăm Việt Nam thì VTV đã có một chương trình truyền hình trực tiếp “Mở đường ra biển” nói về tội ác chiến tranh của Mỹ và ca ngợi Hải Quân Việt Nam đã chống đế quốc Mỹ trong thời gian đó như thế nào. 

 

Nhưng cục diện quốc tế nay đã khác

 

Đại dịch Covid và cuộc chiến tranh Ukraine đã làm thay đổi cục diện ngoại giao quốc tế. Một nước Nga “hùng mạnh” bỗng nhiên tan chảy như bùn trong đầm lầy ngập nước. Một đất nước Trung Quốc với chính sách Zero Covid đã đột nhiên thành 100% Covid và hiện giờ giờ đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề kinh tế nội địa, nên đã cố gắng đẩy mâu thuẫn ra bên ngoài bằng cách “gây sự” với Đài Loan và các nước lân bang. 

 

Việt Nam đang trở nên cô đơn hơn với 2 “đối tác chiến lược toàn diện” của mình là Trung Quốc và Nga. Cả 2 quốc gia có quan hệ cao nhất trong các bậc thang ngoại giao thì dường như đang dồn về cùng một phe. Nga đã tỏ rõ thái độ ủng hộ Trung Quốc trong các tuyên bố về chủ quyền ở biền đông .

 

Giả sử Trung Quốc trắng trợn xâm lược và tấn công hải đảo của Việt Nam ngay hôm nay, thái độ của Thế giới sẽ ra sao?. 

 

Chắc chắn các nước lớn sẽ lên tiếng phản đối nhưng không có Nga, hoặc có không đủ mạnh. Cuộc chiến của Putin đang kéo toàn bộ nước Nga vào một cuộc suy thoái trầm trọng cả về kinh tế và chính trị. Những dấu hiệu của xung đột nội bộ đã bộc lộ và ‘có một cái gì đó đang thối rữa”. 

 

Sẽ không bao giờ có một nước Nga từng được cho là hết lòng giúp đỡ và sẵn sàng can thiệp để bảo vệ Việt Nam như thời Liên Xô vào cuối những năm 1970s. Các lãnh đạo Việt Nam, dù được học tập ở Liên Xô với bao niềm tin cung kính về một người anh cả vĩ đại, cũng đủ nhận thức rằng bản thân nước Nga đang rất yếu, và sẵn sàng quay lưng “bỏ” Việt Nam để đứng về phe “kẻ thù truyền kiếp”. 

 

Trong khi nước Mỹ đã mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam sau gần 30 năm bình thường hoá quan hệ. Từ một quốc gia bị cấm vận, nay hầu hết các cửa đã mở cho Việt Nam. Mỹ là đất nước nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong khi Việt Nam lại nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc. Về chính trị thì đương nhiên là không một siêu cường nào khác ngoài Hoa Kỳ có thể làm cho Trung Quốc bớt hung hăng trong vấn đề Biển đông. Việt Nam hiểu rất rõ điều này. 

  

Thái độ ba phải của người đẹp. 

 

Phải nói thẳng rằng, Việt Nam là một bản sao đồng dạng và nhỏ hơn của Trung Quốc trên phương diện xã hội và ý thức hệ chính trị. Do là một đất nước nhỏ, lại nằm cạnh một kẻ thù lớn đầy dã tâm bành trướng, cho nên Việt Nam phải thể hiện “không chọn bên” để có được “nhiều bên”. Đây là một chiến lược mềm dẻo và linh động trong hoàn cảnh Việt Nam. 

 

Nó được khái quát rõ ràng bằng chính sách “ngoại giao cây tre” mà ngành tuyên giáo còn tôn vinh lên thành một “trường phái đặc sắc”, với nội hàm thể hiện ở 4 điểm: “Mềm mại, khôn khéo, can trường, biết nhu cương”. 

 

Trong mục: “Biết nhu cương” được một sinh viên văn đang làm tổng bí thư diễn dịch rất suôn mồm là “biết nhu, biết cương, biết thời, biết thế, biết mình, biết người, biết tiến, biết thoái, biết tuỳ cơ ứng biến, biết lạt mềm buộc chặt”. Nghe qua một loạt chỉ đạo giáo huấn về “ngoại giao cây tre” ta thấy giống cái “dây thun”, co vào duỗi ra rất ma lanh, kiểu “nói dzậy mà không phải dzậy”. 

 

Trên thực tế, Việt Nam chỉ “đi với” Mỹ khi thấy cần phải có một bên khác nhằm cân bằng quyền lực trong khu vực còn thực chất thì luôn đặt quan hệ và sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Điều này được xác quyết bằng ý thức hệ sâu sắc giữa 2 đảng, bằng 16 chữ vàng và 4 tốt. 

 

Bởi vậy chuyến đi của Biden có diễn ra và quan hệ “đối tác chiến lược” có được công bố hay không thì cũng không làm thay đổi bản chất quan hệ quốc tế của Việt Nam. Bởi lẽ “ba phải” là thái độ ngoại giao của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 

 

Nhưng để có giá trị thì đừng nghĩ là “gái đẹp” thì không cần sự thuỷ chung. 

 

NGUYỄN VĂN CHƯỞNG VÀ THÁCH THỨC MỚI CHO CHỦ TỊCH NƯỚC


Mấy ngày nay trên mạng xã hội đang rộ lên vụ việc tử tù Nguyễn Văn Chưởng sắp bị đưa ra thi hành án. Hàng ngàn người đã chia sẻ các dòng trạng thái về vụ việc và một thỉnh nguyện thư gửi lên chủ tịch nước trên trang avaaz.org chỉ trong 4 ngày đã có gần 5,000 người tham gia ký tên.

 

Nguyễn Văn Chưởng là ai và vụ việc xảy ra như thế nào?

 

Nguyễn Văn Chưởng sinh năm 1983 ở Huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, làm chủ quán bán cafe, chưa có tiền án tiền sự. Ở tuổi 24, Chưởng bị cáo buộc cùng 2 đồng phạm là Đỗ Văn Hoàng và Vũ Toàn Trung, chém chết thiếu tá Nguyễn Văn Sinh, là cảnh sát hình sự ở Quận Hải An, thành phố Hải Phòng vào tháng 7 năm 2007 để cướp của. Em trai của Chưởng là Đoàn cũng bị bắt khẩn cấp vì tội “che giấu tội phạm” trong khi đang mang giấy xác nhận về “bằng chứng ngoại phạm của Chưởng” nộp cho cơ quan công an. 

 

Ngày 12/6/2008 Toà án Nhân dân TP Hải Phòng xét xử sơ thẩm kết án Chưởng tội tử hình về tội “giết người” và “cướp tài sản”. Em trai Chưởng bị kết án 2 năm tù vì tội che giấu tội phạm. Chưởng kháng cáo kêu oan. Tháng 11/2008, Toà án tối cao xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm. Tháng 4 năm 2009, Chưởng bí mật gửi thư cho gia đình, tưởng thuật lại toà bộ vụ việc, khẳng định bị tra tấn, ép cung và buộc nhận tội. 

 

Kể từ năm 2009, Bố Mẹ Chưởng, liên tục kêu oan. Họ bán cả nhà đất, ruộng vườn để mưu tìm công lý cho con với một niềm tin sâu sắc rằng con mình vô tội. Các luật sư đã chỉ ra hàng loạt tình tiết chưa được làm rõ, đầy mâu thuẫn và vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự trong suốt quá trình: Khởi tố, điều tra, xét xử... 

 

Tháng 4, năm 2011, Viện Kiểm sát “Kháng nghị giám đốc thẩm” đề nghị Hội đồng thẩm phán Toà án Nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, huỷ bản án hình sự phúc thẩm đối với Chưởng để xử lại theo hướng giảm hình phạt cho Chưởng. Nhưng ngày 7/12/2011, Hội đồng thẩm phán toà án tối cao gồm 11 thành viên do ông Trương Hoà Bình làm chủ toạ đã bác Kháng nghị của VKSNDTC. 

 

Vào năm 2015, Chủ nhiệm Uỷ ban tư pháp Nguyễn Văn Hiện cho rằng “vụ án Nguyễn Văn Chưởng có sai sót thì cũng hết đường kháng nghị bởi quyết định của Hội đồng thẩm phán là quyết định cuối cùng” trong khi đó Phó viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hải Phong vẫn bảo lưu quan điểm “chưa đủ căn cứ vững chắc để kết luận Chưởng là người chủ mưu, cầm đầu vụ giết người” 

 

Văn tự tử thần và đòi hỏi của lương tâm

 

Ngày 4/8/2023 Toà án nhân dân Thành phố Hải Phòng có công văn số 143/TB-TA thông báo cho gia đình Nguyễn Văn Chưởng “làm đơn xin nhận tử thi, tro cốt của người bị thi hành án tử hình”. Trong thông báo có đề cập đến Quyết định thi hành hình phạt tử hình số 02/2023/QĐ-CA. 

 

Thông báo chính là lưỡi hái đang lướt đến trên đời sống của Nguyễn Văn Chưởng. Gia đình vội vàng cầu cứu khắp nơi, thông tin trên toàn cõi mạng xã hội xôn xao và nhiều người công khai là đã nhắn tin cho chủ tịch nước Võ Văn Thưởng về vụ việc. Cựu đại biểu quốc hội Lưu Bình Nhưỡng, người nổi tiếng vì những phát ngôn đầy trách nhiệm trước dân, đã gửi tin nhắn tới chủ tịch nước đề nghị xem xét cho dừng thi hành án. 

 

Cộng đồng mạng đã thể hiện rõ quan điểm của mình. Mặc dù chưa có một đám đông thực tế cầm biểu ngữ đứng trước toà án để kêu gọi “minh oan” như đã từng xảy ra trong vụ Hồ Duy Hải nhưng công luận ở xã hội là rất lớn. Luật sư Lê Văn Hoà người từng là tổ trưởng tổ kiểm tra án oan của Ban Nội chính Trung Ương, hỗ trợ tư vấn pháp lý cho gia đình cho rằng việc kết án tử hình Nguyễn Văn Chưởng là oan

 

Từ góc độ chuyên môn, luật sư đã lên tiếng, từ cảm thức chung của nhân dân, mọi người đang đòi hỏi công lý phải được thực thi. Công văn đề nghị nhận “tro” hay “thi hài” có số quyết định và điều luật không đại diện cho công lý mà là sự bế tắc của một quy định xơ cứng đã giết chết cả lương tâm con người và cảm thức chung của cộng đồng. 

Suy đoán vô tội là một nguyên tắc phổ biến trong tư pháp quốc tế và của cả Viêt Nam. Hiến pháp và Luật tố tụng hình sự đều khẳng định nguyên tắc này. Thế nhưng tại sao vẫn có rất nhiều vụ án oan sai?. Bởi vì công an “trọng cung hơn trọng chứng” mà dùng nhục hình để bức cung thì công an Việt Nam đã thành thần. Do có một thời gian ở với các tù hình sự trong trại giam, tôi hỏi “các biện pháp nghiệp vụ” mà trong các bài báo công an hay nói  là gì? tất cả đều bảo “đánh và đánh”. 

Trong các biện pháp nghiệp vụ đó thì đòn “treo cánh khuỷu” bằng cách trói tay và móc 2 tay lên phía sau, để mũi chân vừa chạm đất là “mệt mỏi và kinh hãi nhất”. Khi bị treo như vậy thì mong ước tột đỉnh và xuyên xuốt từ đỉnh đầu đến mũi bàn chân là được tháo ra và hạ xuống. Sau “màn treo cách khuỷu” luôn có được một bản cung theo ý của điều tra viên. Hồ sơ vụ án sẽ sớm được khép lại và ai đó sẽ có thêm gạch, thêm sao…

 

Chủ tịch nước có thể làm gì?

 

Ngày còn nhỏ xem phim Bao Thanh Thiên, tôi nhớ mãi một hình ảnh Triển Chiêu cùng Bao Công tổ chức cướp pháp trường để cứu một vị quan. Từ đó, tôi đã có niềm tin mạnh mẽ vào công lý như chính tin vào Thiên Chúa. Tôi luôn nghĩ, cuối cùng thì, trong những giờ phút nguy nan nhất, phải có một ai đó ra tay. Xét theo cả tình và lý thì luật pháp Việt Nam cũng không phải đã hết cách. Chủ tịch nước vẫn có thể bẻ gãy lưỡi hái tử thần, cứu được một mạng người, tạo phúc cho mình và cho dân tộc.  

 

Theo Điều 404, Bộ Luật tố tụng hình sự Việt Nam thì vẫn có một lối thoát. Đó là Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Uỷ ban tư pháp của Quốc Hội, Viện Trưởng VKSTC hoặc Chánh án TANDTC còn có quyền yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán toà án nhân dân tối cao, khi có căn cứ xác định Hội đồng này “vi phạm pháp luật nghiêm trọng” hoặc phát hiện tình “tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng không biết được khi ra quyết định trước đó”. 

 

Ai cũng biết rằng hệ thống quan chức ở Việt Nam bao che cho nhau, cho nên bây giờ không thể nói “Hội đồng đã vị phạm pháp luật nghiêm trọng” và thực tế cũng chưa có “tình tiết quan trọng mới”  nào có thể làm “thay đổi cơ bản nội dung quyết định”. 

 

Nhưng ai cũng biết rằng Việt Nam là chế độ độc tài toàn trị, các quyết định đều do đảng cộng sản lãnh đạo và người đứng đầu tổ chức đảng luôn có quyền lực nhất, có thể “làm” nhiều việc “dọc – ngang” theo ý của đảng. Trước đây trong 11 thành viên của Hội đồng thẩm phán có thể chỉ nhận được 1 chỉ đạo từ một người nào đó, thì bây giờ Chủ tịch nước, với tư cách là Trưởng ban cải cách Tư pháp Trung Ương có thể Họp cùng Ban nội chính Trung Ương và Uỷ ban tư pháp của Quốc hội bàn bạc và đề nghị Hội đồng thẩm phán tối cao mở một phiên họp để xem xét lại quyết định đó và mời cả 2 nhân vật quan trọng nhất liên quan đến vụ án là Đỗ Hữu Ca (nguyên giám đốc công an TP Hải Phòng) và Dương Tự Trọng (nguyên thủ trưởng cơ quan điều tra hình sự TP Hải Phòng) tham gia để xem xét lại quyết định của mình. 

 

Trong trường hợp mà hội đồng không đủ dũng cảm để ra một quyết định khác đi, thì “ân xá” là việc làm dễ nhất và có ý nghĩa nhất lúc này. Chúng ta hy vọng rằng với những cơ sở pháp lý mà Luật sư đã trình bày, và sự lên tiếng của cộng đồng mạng hôm nay, sẽ có tác động đến việc hoãn thi hành án tử hình và hướng đến việc xem xét lại một cách toàn diện và đầy đủ vụ án. 

 

Vụ án Nguyễn Văn Chưởng này cùng với những vụ án có dấu hiệu oan sai khác đang là một thách thức lớn của chính chủ tịch nước với tư cách là Trưởng ban cải cách tư pháp Trung ương. Nếu ông bỏ mặc thì chỉ làm dâng trào lên những bức xúc của cộng đồng giữa một nền tư pháp đang hoại loạn sâu sắc. 

 

 

 

 

 

 

 

CHUYẾN BAY GIẢI CỨU: CÔNG LÝ VÀ NHỮNG CÂU HỎI CÒN LẠI


                                          

Thế là “đại án” chuyến bay giải cứu đã khép lại bằng một bản án sơ thẩm với 3 án chung thân mà không có án tử hình. Số tiền tham nhũng vẫn chưa được thu hồi hết trong khi số tiền phạt bổ sung cho mỗi bị cáo nhận hối lộ chỉ ở mức 100 triệu đồng

 

Đối với quyền lợi của khách hàng đã mua vé của các doanh nghiệp tổ chức chuyến bay Combo, hồ sơ vụ án không có cho nên toà không xem xét giải quyết. Toà dành cho công dân đã mua vé quyền yêu cầu doanh nghiệp giải quyết quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật. 

 

Trước đó khi bị đề nghị án tử, bị cáo Nguyễn Trung Kiên, đã nộp thêm 7 tỷ tiền khắc phục và đã thoát khỏi mức án phạt cao nhất. Ngày 17/7 phiên toà cũng đã tạm dừng để cho các bị cáo nộp tiền khắc phục hậu quả ngay trước khi Viện kiểm sát đề nghị mức án. 

 

Sau đó, Viện kiểm sát đã đề nghị giảm án cho một số người. Dự luận rộ lên vì tính chất “mua bán án” công khai và lo sợ điều đó sẽ trở thành thông lệ. 

 

SAO KHÔNG PHẠT GẤP 1.000 LẦN SỐ TIỀN TỘI PHẠM?

 

Một điểm quan trọng là sự khác nhau giữa tiền “tội phạm” và “tiền phạt”. Đồng tiền mà các bị cáo đã “đưa và nhận” trong vụ án hối lộ chính là phương tiện phạm tội, phải bị tịch thu. 

 

Theo luật hình sự Việt Nam thì “phạt tiền” có thể là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung, đối với những vụ án tham nhũng thì hình phạt bổ sung, trong đó bao gồm cả “tịch thu tài sản” và “phạt tiền”. 

 

Khoản 3, Điều 35 BLHS cho phép các thẩm phán lựa chọn quyết định mức phạt bổ sung dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm và khả năng tài sản của người phạm tội. Luật pháp chỉ ghi mức tối thiểu mà không quy định mức tối đa. 

 

Vì vậy các thẩm phán hoàn toàn có quyền ra một bản án bao gồm một khoản tiền phạt bổ sung đủ lớn, thậm chí lên đến 1.000 lần số tiền tham nhũng ngoài việc tịch thu toàn bộ phương tiện phạm tội tức là số tiền đưa và nhận hối lộ. 

 

Thông thường các thẩm phán là người giàu có ở đô thị nên số tiền họ đang nói đến sẽ thấy bình thường nhưng khi lượng hình thì cần phải so sánh với toàn bộ đời sống của người dân Việt Nam. 

 

Hãy nghĩ đến những đồng bào ở vùng sâu vùng xa, nhìn những công nhân lao động vất vả và số tiền lương lương hàng tháng họ nhận được để thấy rằng số tiền lấy số tiền chục tỷ, trăm tỷ nó lớn đến nhường nào. 

 

Như vậy một bản án nghiêm khắc với hình phạt bổ sung một khoản tiền lớn mới đủ sức răn đe đối với quan chức và có khả năng tiêu diệt ham muốn phạm tội của người khác. 

 

CÔNG LÝ THEO Ý CỦA ĐẢNG 

 

Điều 2 Luật tổ chức Toà Án ghi rõ “Toà án có nhiệm vụ bảo vệ công lý”

 

Bản án của toà không đại diện cho ý chí của số đông, cho lương tâm và luật pháp bởi hơn 200.000 nạn nhân bị ngắt ra khỏi vụ án để phải tự kiếm tìm công lý cho riêng mình. 

 

Nhiều người dân còn khẳng định đây là cách nhà nước lấy lại tiền đã bị “trấn lột” của người dân giữa cơn hoạn nạn.  

 

Giữa lúc rất nhiều người nghèo, người bất đồng chính kiến đang bị án nặng mà không thể tự giải cứu mình trong khi các quan chức có rất nhiều “tình tiết giảm nhẹ. Khoản 1, Điều 51 của BLHS quy định đến 22 tình tiết giảm nhẹ hình phạt. Một quan chức  bình thường khi đứng trước vành móng ngựa đều có thể kiếm ít nhất 2-3 tình tiết như “thành khẩn khai báo, có thành tích xuất sắc trong công tác, gia đình có công với cách mạng, bồi thường khắc phục hậu quả…”  Nếu có hơn 2 tình tiết giảm nhẹ thì toà có thể chuyển hình phạt xuống khung liền kề. 

 

Một người dân thường sẽ “không có thành tích trong công tác” và việc khắc phục hậu quả bằng tiền là rất khó khăn. Đối với những người bất đồng chính kiến thì đã tự ý thức được công việc của mình làm nên không có cái gọi là “ăn năn” hoặc thành khẩn khai báo. Do vậy họ có tình tiết tăng nặng thay vì giảm nhẹ và thường bị án cao hơn nhiều. 

 

Việc “khắc phục hậu quả” gần đây lại càng được triển khai mạnh theo chỉ thị 04/CT-TW ngày 02/6/2021 của Trung ương ĐCS. Thu hồi tiền đang được coi như một chủ trương quyết liệt của công cuộc đốt lò nhằm thu hồi tiền tham nhũng. 

 

 

SỢ HÃI LẤN ÁT VIỆC ĐÒI TIỀN

 

Khi đóng cửa bầu trời để các chuyến bay “combo” xuất hiện là lúc chính phủ tung một tấm lưới vét khổng lồ giữa trời quang để những quan lùa các nạn nhân vào đó. Đầu tiên hành khách phải đi trên đường bay từ Mỹ hoặc Châu Âu về đi của một hãng hàng không nước ngoài với chỗ ngồi rộng rãi, cách ly đúng chuẩn nhưng khi đã bắt đầu về đến “Nhật bản hay Hàn Quốc” thì tất cả được túm lại, nhồi nhét lên Vietnam Airlines, không có một chiếc ghế trống. 

 

Mỗi một chuyến bay “giải cứu” được thực thi xong tất cả các thành viên tham gia trên chuyến bay đều phải tập trung lại giơ tay cám ơn. Sau khi xuống khỏi chuyến bay “giải cứu” thì bị “hành” trong đó có việc “ngoáy mũi” hàng tiếng đồng hồ tại sân bay trước khi đưa về nơi cách ly mà điều kiện sống không khác tù nhân giam lỏng.  

 

Rất nhiều nạn nhân đã chứng kiến việc vô lý xảy ra với mình hôm nay nhưng chưa một ai dám đứng ra để làm đơn kiện các cơ quan chính phủ trả lại tiền. Trong mấy chục năm cầm quyền bằng chuyên chính vô sản, chính quyền đã tạo ra một nỗi sợ hãi của Nhân dân đối với bộ máy nhà nước.

 

Nhưng ít nhất thì bây giờ trong bản án, toà đã dành cho họ quyền được liên hệ với các doannh nghiệp để đòi lại quyền lợi của mình. Tôi đã liên hệ thăm hỏi với 3 nạn nhân mà mình biết để vận động đứng ra làm đơn kiện nhưng chưa một ai dám. 

 

Họ sợ. Nỗi sợ đã ăn sâu vào tất cả những người con dân Việt Nam, ngay cả việc đòi lại quyền lợi chính đáng của mình. Hình như luật pháp và toà án có vẻ vẫn là nỗi khiếp đảm của công dân. 

 

 

NHỮNG CÂU HỎI CÒN LẠI 

 

Công lý chính là lý chung được mọi người thừa nhận dựa trên hạt nhân là đạo đức và niềm tin vào pháp luật. Khi luật pháp đang tách những người có quan chức và quyền lực ra để được đối xử theo một hướng riêng bằng ý chí của đảng và bỏ lại các nạn nhân thì bản thân nó đã tạo ra sự bất công. Khi luật pháp bất công thì không còn là luật pháp. (Unjust laws are not laws). 

 

Khi nhìn vào đại án chuyến bay giải cứu, ta mong muốn đi kiếm tìm công lý cho tất cả, nghĩa là tìm kiếm sự công bằng ai đã làm gì, hậu quả ra sao thì nhận được mức độ trừng phạt tương ứng. Tiếc rằng chúng ta chỉ thấy sự bất công dâng tràn ở mức cao nhất. 

 

Bao nhiêu người sẽ đặt câu hỏi: chỉ có các vụ trưởng, thứ trưởng bị xét xử, 2 phó thủ tướng bị thôi chức, thế còn thủ tướng thì sao?. Thủ tướng phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng vì những hành vi của cấp dưới của mình? 

 

Bao nhiêu người sẽ đặt câu hỏi: Xét xử môt đại án lớn đến như vậy, hàng trăm ngàn nạn nhân bị “trấn lột” giữa cơn quẫn bách nhưng giờ này họ đang ở đâu? họ là sinh viên, người lao động và thậm chí cả tù nhân… những đồng tiền bằng mồ hôi nước mắt của họ giờ đang ở đâu?

 

Bao nhiêu người trong ngành từ pháp phải đặt lại vấn đề về nguyên tắc “suy đoán vô tội” đã được quy định tại điều 13 - Bộ luật tố tụng hình sự? Chiếc va li mã số 104 thực sự chứa 450 ngàn đô la hay chỉ có 4 chai rượu vang? 

 

Tiền lệ này không hề mới với những người bất đồng chính kiến mà đảng muốn tiêu diệt, nhưng sẽ là câu hỏi nhức buốt tinh khôi với tất cả quan chức mà đảng cũng đang muốn loại trừ. 

 

Bản án của toà đã không đại diện cho công lý. Nó chỉ thoả mãn một phần bức xúc nhỏ nhoi trong đời sống của người dân Việt Nam, ngược lại, một chiều kích khác, nó gợi lên những suy nghĩ sâu sắc để chống lại bất công.