Monday, November 22, 2010

TRÊN TINH THẦN NÓI CHUNG LÀ "GIẢ DỐI -LỪA ĐẢO "



BIÊN BẢN HỘI THẢO KHOA HỌC

HỘI KHOA HỌC KINH TẾ VN
và TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ DỰ BÁO KINH TẾ-XÃ HỘI QUỐC GIA

(Chưa được chỉnh lý)

Chủ trì: GS Trần Phương, Chủ tịch Hội KHKTVN

Khai mạc: 8 h 30, ngày 7-10-2010

Thành phần: Hội KHKT – XH QG

Một số thành viên Tổ Biên tập Cương lĩnh

Một số cán bộ nghiên cứu (được mời): GS Trần Phương – nguyên phó Thủ tướng Chinh phủ ; Vũ Khoan – nguyên phó Thủ tướng Chính phủ ; PGS Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện kinh tế ; GS Phan Văn Tiệm – nguyên thứ trưởng Bộ Tài chính ; Việt Phương – nguyên Thư ký cố vấn của cố Thủ tướng Phạm văn Đồng ; Dương Thu Hương – nguyên phó Thống đốc Ngân hàng ; GS Đào Xuân Sâm – nguyên Trưởng bộ môn Quản lý kinh tế trường Nguyễn Ái Quốc; PGS Võ Đại Lược – nguyên viện trưởng Viện Kinh tế Thế giới …

Nội dung: Góp ý cho các Dự thảo Văn kiện Đại hội XI của Đảng.

1 - GS Trần Phương: Đề nghị nói ngắn, nói rõ: muốn sửa điều này, bổ sung điều kia thôi, không cần giải thích vì mọi người đều đã đọc, đã biết cả. Nói ngắn để nhiều người được nói, và nghe đươc ý kiến của nhiều người.

2 - GS Đào Công Tiến: Không nên giữ “kim chỉ nam” như cũ. Phải coi cái đúng ở mọi thuyết đều là nền tảng tư tưởng.

Cần nhận thức lại CNXH, CNXH như cách hiểu chính thống, ngòai khẩu hiệu “Dân giàu nước mạnh.” như mục tiêu thì được; nhưng 3 đặc trưng ở mô hình trong đó Đảng CS toàn trị, đấu tranh giai cấp, …thì cần thay bằng một mô hình văn minh hơn. Ở đó, dân quyền, pháp quyền phải là tối cao. Hiện nay cần tăng cường tư tưởng khoan sức dân (như Di chúc của Bác Hồ).

Các giải pháp đột phá: phải nhằm vào cải cách chính trị (chứ không chỉ kinh tế).

3 - Ông Việt Phương: Nay người ta không quan tâm góp ý vào văn kiện, vì cho rằng ĐH nào cũng chủ yếu là vấn đề nhân sự thôi. Về văn kiện, có 5 ý sau:

- Qúa dài, rất trùng lắp

- Đã có một số chủ trương đúng, mới đã được ghi nhận trước đây. Không được tước bỏ đi. Phải đưa trở lại + nhiều cái mới nữa. Những cũ kỹ, lạc hậu, sai lầm quay lại nhiều quá.

- Rất nhiều điều chỉ có thể là dự báo khoa học lại coi là chủ trương, Ví dụ: Đến giữa thế kỷ XXI VN thành thế này, thế kia.

- Giữa các văn kiện không có tư tưởng thống nhất

- Văn kiện bị tụt lùi xa so với ĐH 9,10.

Nếu có thể sửa chữa ti nào thì tốt. Hoặc nên có một Nghị quyết mới, khác. Chỉ nên 10-15 trang, chủ trương tinh túy thôi.

4 – Ông Nguyễn Trung:

Văn kiện chưa rõ vấn đề giải phóng con người, mà còn chưa thống nhất được dân tộc về ý chí, về con đường đi.

Nhận định về quốc tế, về các nước XHCN và tình hình đất nước sai. Nên bỏ đi!

Nên có một Nghị quyết khác với các vấn đè chính là:

- PTBN: nên ghi rõ thành 1 chủ trương + chương trình hành động cụ thể. Thủ tướng đã có một bài viết về v/đ này rồi.

- Quan hệ đối ngoại, nhất là đối với TQ: phải rõ quan điểm.

- Cải cách thể chế chính trị thành một vấn đề bức xúc, không giải quyết không phát triển được. Phải xây dựng Hiến pháp mới.

5 – PGS Võ Đại Lược:

Đồng tình với các ý kiến trước. Lẽ ra Hôi thảo phải có người lãnh đạo nghe.

Ta đang sống trong thời đại thế giới đại điều chỉnh, nhưng Văn kiện không ghi nhận được điều này.

Đánh giá sai nhiều lắm. Ví dụ: Sụp đổ của XHCN là tổn thất, vậy không phải là thời cơ à?

Định nghĩa về CNXH; Công hữu là chủ đạo? thật là vô lý, có hại cho đổi mới! Doanh nghiệp Nhà nước là chủ đạo, nền tảng của kinh tế nhà nước, chỗ này là phi XHCN nhất, nguy hiểm quá.

Ngoài chủ trương công hữu và Đảng CS lãnh đạo chả khác gì phương Tây.

Vấn đề hoàn thiện thể chế ghi trong Văn kiện lại không có định hướng, trở nên vô nghĩa.

Phải có thí nghiệm thể chế, nên xây dựng đặc khu kinh tế.

Tóm lại: Các Văn kiện hiện quá lạc hậu so với thời đại.

6 – TS Nguyễn Mại:

- Có 3 chỉ tiêu cần thay đổi; thu ngân sách 26% (quá cao), 5 năm qua thu 28% ; điều chỉnh tổng đầu tư XH/GDP: 42% (quá cao), chỉ nên 35% thôi; thu thuế qua hải quan là hơn 30%. Rất phi lý! Phải tăng thu trong nước, giảm thu hải quan. Các nước thu trong nước tới 90%.

- Phải khoan sức dân. Cần cải cách thuế một cách cơ bản, triệt để.

- Đề nghị phải làm rõ PMU 18, Vinashin,

- Đột phá 3 lĩnh vực nêu trong Văn kiện thì không phải là đột phá. Phải đột phá Tư duy!

- Đã đến lúc phải đổi mới hệ thống chính trị, phải phân định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng của nhà nước. Quốc hội hiện chưa phải là cơ quan lập pháp!

Tôi nghĩ vấn đề Đảng có thật sự muốn nghe hay không?

7 – Ông Vũ Khoan:

Tiêu chí thực hiện công nghệ hoá như thế nào? Nhưng trong điều kiện phải hiện đại hoá, chứ không chỉ công nghệ hoá.

- Xử lý những bất ổn trong kinh tế vĩ mô; thâm hụt ngân sách, nhập siêu quá cao;

- Hoàn thành đầy đủ cái nền tảng hay là xây dựng mới?

- Tình hình quốc tế khó khăn hơn trước; sau khủng hoảng người ta thay đổi cả, ta không rõ;

- Nhân tố TQ; chưa tính hết và chưa đúng vấn đề dùng nhân dân tệ làm phương thức thanh toán.

Về mô hình phát triển: Văn kiện trình bày chưa rõ (chưa hình thành được mô hình phát triển cho 10 năm tới ).

Vấn đề đột phá (bây giờ thành mốt rồi): nên đưa nguồn nhân lực lên đầu tiên. Trong nhân lực quan trọng nhất là vấn đề người lãnh đạo. Gíáo dục chưa biết là đi theo hướng nào?

Thể chế: Phải đặt vấn đề về thể chế quản trị quốc gia.

Góp ý chỉ ta là với nhau chăng? Dân có biết gì đâu? Đại hội Đảng bộ các cấp cũng có đóng góp gì đâu Văn kiện thiếu vấn đề giải pháp, không biết làm thế nào để thực hiện những ước muốn kia?

8 – Ông Vũ Quốc Tuấn:

Văn kiện không phản ánh được cuộc sống. Phải đưa cuộc sống vào Nghị quyết. Đổi mới chính trị chưa theo kịp đòi hỏi, đang cản trở.

Xác định cho rõ vai trò lãnh đạo của Đảng: Lãnh đạo là ai? Ai cho anh quyền lãnh dạo? Chính quyền thì ỷ lại Đảng, cái gì cũng đợi để Thường vụ bàn!

9 – PGS Trần Đình Thiên:

25 năm qua, điều ta đạt được là nhờ chuyển sang thị trường chứ không phải là do định hướng xã hội chủ nghĩa. Gắn chủ nghĩa xã hội với thị trường như thế nào không rõ. Bây giờ thế nào là chủ đạo?

10 – TS Lê Đăng Doanh:

Cần kiểm điểm lại các nhiệm vụ ghi trong ĐH 9, 10

Có một số việc không làm.ví dụ: Luật về Hội, Luật về quyền tiếp cận thông tin, Luật Hiến pháp, vv…Tại sao Đảng lại không thực hiện nghị quyết đại hội Đảng?

Vậy sắp tới có quy chế gì không?

Đổi mới thể chế phải là then chốt! Phải ngăn chặn lợi ích nhóm, kiểm soát sự lãnh đạo của Đảng. Cần có luật về sự lãnh đạo của Đảng.

Thể chế là vấn đề sống còn. Đảng phải đổi mới, phải được giám sát.

Tình hình kinh tế vĩ mô và kinh tế thế giới không giống như trong Văn kiện.

Phải nhìn thẳng vào sự thật. Lừa được người ta mà không lừa được thực tiễn đâu.

Các nước xung quanh cải cách rất nhanh.Ở ta có 3 vấn đề bức thiết: Thể chế, lợi ích nhóm, vận hành quyền lực tùy tiện không thể không giải quyết.

11. GS Nguyễn Đình Hương:

Tôi vẫn hy vọng đóng góp của ta đến được TW.

Các văn kiện còn mâu thuẫn. Ví dụ như nội dung nói về cơ cấu còn khác nhau. Vậy cần có sự thống nhất về thuật ngữ giữa các văn bản.

12. GS Lê Du Phong:

Tôi có 4 nhận xét:

- Tư duy lý luận lạc hậu, mâu thuẫn, Xa rời thực tiễn; thụt lùi so với ĐH trước; Vấn đề công hữu, kinh tế nhà nước là chủ đạo, bình đẳng mọi thành phần là những vấn đề nổi cộm.

- Lòng tin của dân đối với Đảng, với chế độ giảm.

- Xem thường lịch sử; Nói CNXH là điều kiện để độc lập. Các triều đại trước có CNXH đâu mà vẫn độc lập.

- Không gắn với thời đại, xem thường thiên hạ.

Nếu cứ thế này, đến năm 2020 chắc chắn sẽ tụt xa so với các nước.

Hungari: 2001: 5000 USD/ người; năm 2008: 15000 USD/người, họ nhanh hơn ta nhiều.

Đột phá: Đầu tiên là đổi mới hệ thống chính trị vì đang là vật cản.

13 – GS Trần Phương:

Hiện nay ta thích nói một cách, làm một cách khác. Ta nói chủ nghĩa Mác-LêNin, nhưng nó là cái gì mà bảo nó là nền tảng? Ta có làm theo các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác không? Đổi mới của ta thực chất là “ thụt lùi”; thừa nhận cả kinh tế tư nhân …

Mác đã sai khi dự kiến về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Ta giả vờ theo Mác, vì nói vậy nhưng đã làm khác đi rồi.

Đổi mới là so với cái đã sai trong 20 năm trước!

Mác nói: triệt tiêu chế độ tư hữu, thế là sai! Vì mất động lực (giống nhận xét của Victo Hugo về Mác). Vậy: chủ nghĩa xã hội là gì? Có ai trả lời được không?

Ta nói và ta biết là ta đang bịp người khác! Nhưng “Người ta chỉ có thể lừa bịp được vài người trong mọi lúc, lừa được mọi người trong vài lúc, nhưng không thể lừa được mọi người trong mọi lúc!” (Abraham Lincoln).

Vậy, viết thế nào thì viết, nhưng đừng đao to búa lớn quá.

Mác mới là phác thảo, dự báo về xã hội tương lai chứ có phải nguyên lý, kinh thánh đâu? Liên Xô cũng từ chối xã hội chủ nghĩa đấy chứ!

Không thể nói kinh tế nhà nước là chủ đạo được, nhiều nhất chỉ là nòng cốt thôi. Nói thế là sai với thực tế. Có sử dụng quả đấm thép nào đâu?

Phải xác định rõ chủ nghĩa xã hội là gì? Định hướng nó là gì? Chủ nghĩa Mác-Lê nin có điều đúng, có điều sai rồi! Vậy thì phải xem trong đó có cái gì là nền tảng chứ. Bây giờ có đến 6,5 tỷ người, đến nước sạch cũng bị thiếu rồi, đánh nhau vì nước uống. Cái gọi là chủ nghĩa cộng sản đã là ảo tưởng rồi.

Tôi nói với ông Đỗ Mười, ông Phạm văn Đồng là đến cuối thế kỷ XXI này, con cháu chúng ta mới bắt đầu nghĩ đến chủ nghĩa xã hội

Tóm lại, cương lĩnh viết không rõ ràng.Chiến lược cũng nhiều điều không rõ ràng.

Nông dân còn chiếm đa số. Đầu tư cho nông nghiệp quá thấp, suốt cả 30 năm nay. Đê đập không tốt, hệ thủy nông, hồ chứa nước … Sắp tới ta 100 triệu dân, nuôi số này như thế nào? Đảng này, Chính phủ này muốn ổn định phải lo đến nông dân. Phải sửa chỗ đầu tư bất cập vào nông nghiệp.

Phân cấp quản lý 10 năm qua là sai. Vì biến thành rất nhiều “vương quốc”!

Tỉnh nào cũng có xi măng, sân bay, nhà máy thép, cảng biển …đầu tư nham nhở. 15 khu kinh tế, làm gì có tiền mà làm 15 khu kinh tế.

Tổ chức quản lý các DNNN sai ! Nhật chỉ có MITI, nhưng dưới nó là các tập đoàn tư nhân lớn. Ta thì Bộ không làm quản lý, sửa chữa, đi quản DN, làm sao quản nổi?

Tài sản toàn dân ai quản? Phải xử lý vấn đề này như thế nào? Như vậy, cơ chế quản lý không rõ ràng, phải sửa!

Thể chế: Loài người đi đến chỗ Dân chủ. Nhưng thế nào là Dân chủ?

Nhất định phải đến chỗ Dân chủ + Pháp quyền.

Đảng quyết mọi thứ mà lại không chịu trách nhiệm gì. Thế mới chết chứ.

Không phải chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà cả quan điểm tư tưởng đấy.

Viết rằng 2020 thành nước công nghiệp mà có 3000 USD/người là bịp dân. Nước công nghiệp mà có 3000 USD/người thôi à! Vậy mục tiêu không rõ ràng và không đúng.

Cương linh cũng không chỉ cho biết cần làm gì. 3 cái đột phá không phải là đột phá. Không đột phá vẫn phải làm 3 cái đó.

Cương lĩnh và văn kiện đều theo tinh thần chúng ta quyết làm tất cả. Thành ra chúng ta không làm gì cả. La liệt, đủ thứ ; không thể góp ý gì được, không biết làm gì để tiến lên.

14 – Ông Nguyễn Trung (lần 2)

Nên lưu ý kiến của TS Lê Đăng Doanh. Đừng say mê về chuyện tăng trưởng con số, vì có thể vì nó mà sụp đổ.

Kiến nghị: Kinh tế nhà nước chủ đạo là thế nào? Cần định nghĩa rõ. Có phải làm những cái tư nhân không được làm không? Đề nghị bỏ hẳn cái phần làm trái nghề đi. Bỏ hẳn phần bao cấp quyền, bao cấp vốn, mà chỉ còn dịch vụ công.

Vấn đề phụ thuộc vào Trung Quốc, rất nguy hiểm. Toàn bộ xuất siêu của ta đập vào nhập siêu của Trung Quốc mà không đủ. Nếu Trung Quốc chỉ dùng Nhân Dân tệ để buôn bán khu vực thì ta nguy.

Nhân sự: Tổng Bí thư phải gương mẫu thực hiện công khai minh bạch; nên có chương trình hành động, có cam kết; có một tổ chức giam sát việc thực hiện cam kết.

15 – GS Đào Xuân Sâm:

Tại sao Văn kiện lại ngổn ngang thế.

Trong hành trang của Đảng đừng nên nói CN Mác-Lênin vì ta không có nguyên bản, chỉ có du nhập. Hành trang đó bây gìờ vẫn mang vào ĐH XI. Nên xem lại trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cương lĩnh thất bại, tuyên truyền thất bại. Lý luận chính trị chưa bao giờ suy đồi như bây giờ. Học viên bây giờ phải học cưỡng bức 3 chứng chỉ.

Trong khu vực DNNN không tìm thấy động lực nối tiếp. Ngổn ngang quá. Gỉả dối quá. Thật là bi kịch.

Cảnh ngộ của Đảng ta từ sau Đại hội XI bắt đầu bước vào suy đồi. Không loại trừ khả năng Dân tộc phải chịu đựng nhiều năm.

Sửa gì? Nên tập trung vào Đảng, Nhà nước, khu vực công.

16 – GS Phan Văn Tiệm:

Tôi chia sẻ với tất cả các ý kiến đã nói, rất tâm đắc. Văn kiện ít tinh thần, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nên viết lại Cương lĩnh. Cụ Hồ rất ít nói về chủ nghĩa xã hội.

Phong trào cộng sản quốc tế rất tả khuynh, biểu hiện rõ nhất là căm thù tư hữu. Sức sống của chế độ tư hữu lớn lắm.

Từ nay từ bỏ chủ đạo. Không nên lập ra các tập đoàn kinh tế, vì đó là sân sau của quan chức.

17 – Bà Phạm Chi Lan ;

Cảm nhận chung của các địa phương giống như các anh vừa nói. Mọi người ngạc nhiên hỏi rằng: “Bây giờ viết vậy, họ tin thế thật à?”. Dân còn tin Đảng như tôi nói đây? Toàn là giả dối cả. Cộng đồng quốc tế người ta cũng có tâm trạng như vậy.

Người ta bình luận, Triều Tiên dại quá! Lại đưa ông Kim con 27 tuổi lên đại tướng. Khôn ra thì luân chuyển một chút rồi hãy lên!

Nếu đưa cái Cương lĩnh Chiến lược này ra mà thông qua thì sẽ ra sao đây?

Qủa đấm thép không đấm vào đối thủ mà lại đấm ngay vào chính ta.

Còn 2 “Vinashin” nữa, tình trạng không khác gì Vinashin, rất nguy hiểm.

Nợ công trầm trọng quá.

Cải cách hệ thống chính là nút thắt phải gỡ.

18 – Bà Dương Thu Hương

Văn kiện thì không có gì mới về nhận thức lý luận, không sát thực tiễn, cái cũ không sửa được, vậy thì sẽ đi đến đâu?

Định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường, của công nghiệp hoá là gì mà cứ phải có cái đuôi ấy?

Dân Chủ thì ở đâu cũng giống nhau; dân được nói mới là Dân Chủ.

Đảng vẫn đặt Dân tộc sau giai cấp, Cương lĩnh như thế không tập hợp được lực lượng.

GDP 2005 khác 2010 về giá nên không rõ có thật phát triển không?

Dự thảo Văn kiện đánh giá: “Dân chủ trong Đảng được mở rộng”. Tôi nghĩ trong Đảng là mất Dân chủ nhất. Đại biểu Quốc hội là đảng viên thì phải hy sinh quyền lợi của cử tri, chỉ vì vị trí của đảng viên.

Hầu như không có nhận định nào trong Văn kiện là đúng sự thật thực tiễn.

An ninh quốc phòng: tôi đang rất lo sợ. Bau xit Tây Nguyên, cho thuê rừng, lao động nước ngoài …không được giải quyết dứt điểm. Trong các báo cáo đề cập rất mờ nhạt.

Niềm tin của dân với Đảng giảm sút thì trách nhiệm của Đảng đến đâu? Liên Xô đổ vì dân không còn tin Đảng.

Phần viết về nguyên nhân: đánh giá rất sơ sài và đổ cho khách quan.

Tất cả yếu kém trên mà chỉ nói BCH TW xin tự phê bình,…; nói thế quá nhẹ nhàng; mà không nhận khuyết điểm, nhận trách nhiệm.

Phương hướng Phát triển đất nước thì thiếu giải pháp.

19 – TS Lưu Bích Hồ

Tôi đánh giá rất cao Hội thảo này, vì rất thẳng thắn, cởi mở. Tôi rất chia sẻ các ý kiến các anh các chị hôm nay.

Nhưng nói mãi mà vẫn không vào được Văn kiện.

Có lẽ cần có ngọn cờ của đổi mới thì mới vào Văn kiện được.

Tôi nghĩ đất nước ta chưa bao giờ dân trí cao như bây giờ. Nhưng trình độ lãnh đạo thì khó xác định.. Họ hiểu biết mà không nói ra. Dẫu sao, nói chung trình độ trí tuệ thì chưa bằng bên ngoài. Đây là nguyên nhân làm cho cuộc sống không vào được Văn kiện.

Vậy có thể thay đổi được không? Tôi còn một chút hy vọng.

Đề nghị anh Trần Phương giảng lại cho các đ/c TW hiểu thế nào là công hữu, vì trước anh đã giảng cho họ làm như hiện nay. Nay anh cần giảng lại cho họ.

Đề ngị bỏ DNNN là chủ đạo; thừa nhận Xã hội Dân sự và phát triển Xã hội Dân sự.

Bây giờ tình thế và ngọn cờ không giống như hồi ĐH 6.

Nền tảng của xã hội ta là gì? Tôi xin hỏi ý kiến các anh? Đảng có dựa vào công nhân không? Có dựa vào nông dân không? Tôi nghĩ không. Vậy dựa vào cơ sở nào? Có dựa vào trí thức không? Cũng không nốt!

Vậy có phải doanh nhân? Mà doanh nhân lại chỉ là các DNNN ư? Phải viết lại, đánh giá lại chỗ này trong văn kiện.

Thế giới bao giờ cũng phải dựa vào trí tuệ, nên phải dựa vào trí thức và doanh nhân. Nhưng lại mâu thuẫn với điều lệ Đảng!

Nếu không kịp sửa, đề nghị không thông qua Cương lĩnh! Để lại sau.

20 – PGS Võ Đại Lược (lần 2)

Còn một vấn đề chưa nói đến là công tác cán bộ. Tình trạng mua quan bán chức lộ liễu, công khai, hết sức nguy hiểm. Thị trường quan chức bóp chết tất các thị trường khác.

Cơ chế tuyển dụng, tuyển chọn cấp cao như thế nào? Không công khai minh bạch.

Người lãnh đạo ở các cấp không có chịu trách nhiệm gì cả với quyết định của mình. Bộ giao thông, Bộ xây dựng … cầu đổ, nhà đổ , không thấy nói gì về trách nhiệm cả. Một đất nước như vậy thì không mong đợi gì!

21 – GS Vũ Huy Từ

Tôi rất nhất trí với tất cả các ý kiến từ sáng đến giờ. Chưa bao giờ vấn đề nghiêm trọng như bây giờ. Dân không còn tin Đảng như trước nữa. Không ai quan tâm nữa.

Xin lưu ý: trong Dự thảo có câu: Nhà nước tập trung xây dựng đường bộ + đường sắt cao tốc Bắc – Nam. Có nên đưa vào không?

22 – GS Trần Phương (lần 2) :

Tư tưởng trong Đảng không rõ ràng. Có nguyên nhân của nó đấy. Trước đây có Nghị quyết của ĐCS và CN quốc tế (1957 và 1960), xem đó là những quy luật và dựa vào đó, người ta khai trừ Nam Tư ra khỏi các Đảng CS.

Cương lĩnh 1991 vẫn y như quan điểm chung của hệ tư tưởng cũ. Chưa có đổi mới gì cả. Vì chưa kiểm điểm lại hệ tư tuổng cũ.

Hội đồng Lý luận TW có bao giờ ngồi lại nghĩ xem Mác có cái nào đúng, cái nào sai không? Lê nin cũng vậy! Ví dụ: tư tưởng cách mạng không ngừng.

Cương lĩnh đầy dẫy cái sai, cái mơ hồ. Nói XHCN mà không biết nó là cái gì? Nhiều chuyện ta tự lừa dối mình và lừa dối người khác. Phải sửa!

Nhưng ai sửa?

Kết luận:

Các nhà kinh tế học thảo luận về Dự thảo Văn kiện, nhưng thực tình không nhằm vào sửa Văn kiện. Ta chỉ chuyển cho Ban Văn Kiện, họ có sửa hay không là việc của họ. Trách nhiệm của nhà nghiên cứu là nói trung thực, thẳng thắn, với tinh thần xây dựng, mong muốn Đảng mạnh lên, đất nước mạnh lên.

Dù không được chấp nhận, nhưng ít ra cũng lưu vào văn bản, lưu lại hậu thế rằng năm 2010 có một số nhà kinh tế đã nói như vậy, để hậu thế biết rằng, hóa ra đất nước cũng còn những trí thức không đến nỗi dốt nát.

Kết thúc Hội thảo lúc 17 giờ


Thursday, November 11, 2010

CẢM GIÁC BẤT AN

Kiệt tác Guernica của danh họa Picasso

CẢM GIÁC BẤT AN

Nguyễn Trần Bạt

Bất an là một cảm giác, một trạng thái tâm lý bình thường của con người. Sẽ chẳng có gì là đáng bàn nếu nó xuất hiện ở một hoặc một vài cá nhân. Vấn đề cần nghiên cứu là cộng đồng, hay nói rộng hơn, xã hội sẽ đi về đâu khi bất an trở thành một trạng thái tâm lý phổ biến.

Trên tinh thần đó, chúng tôi sẽ tiếp cận và phân tích cảm giác bất an từ một góc độ khác – đó là cảm giác bất an như là tín hiệu về sự xuất hiện của các rủi ro trong đời sống. Hy vọng nó sẽ cung cấp cho các nhà khoa học những gợi ý về việc xây dựng một lý thuyết có ý nghĩa thực tiễn – lý thuyết quản lý rủi ro trong xã hội hiện đại.

Cảm giác bất an như một hiện tượng xã hội phổ biến

Nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu trong bài viết này, chúng ta hãy cùng nhau trả lời các câu hỏi cảm giác bất an là gì? Là khủng hoảng niềm tin, là rối loạn nhận thức, là những nghi ngờ về tính hợp pháp của hành vi hay là nỗi lo sợ vô hình, thường trực và khó cắt nghĩa?

Trước hết, bất an là một cảm giác, và giống như bất kỳ trạng thái cảm xúc nào của con người, nó mang đậm sắc thái trừu tượng. Chính bởi vậy, thật khó để xây dựng một định nghĩa cụ thể và tuyệt đối chính xác về cảm giác bất an. Bài viết này sẽ nghiên cứu cảm giác bất an trên tư cách là một nỗi lo sợ vô hình, thường trực và khó cắt nghĩa bởi nó là hệ quả mang tính chất tổ hợp của sự khủng hoảng niềm tin, rối loạn về nhận thức và những nghi ngờ về tính hợp pháp của hành vi. Ba loại cảm giác trên tựa như những mạch nước ngầm khác nhau trong tâm hồn mỗi con người và cùng đổ về một dòng suối - đó chính là cảm giác bất an.

Từ góc độ phân tâm học, bất an là năng lực cảm biến của con người về những rủi ro có thể xảy đến với mình (hoặc lien quan đến mình), và vì thế, nó phần nào giống như bản năng sinh tồn hay một loại phản ứng của con người trước những tín hiệu về sự xuất hiện của rủi ro. Vì vậy, không bao giờ cảm giác bất an bị triệt tiêu, nếu con người không cảm thấy bất an thì chắc chắn, anh ta đã bị thoái hóa cả về tâm hồn lẫn nhận thức. Tuy nhiên, khác với các loại cảm giác khác, ngay cả khi được chia sẻ, cảm giác bất an vẫn không tăng lên hay vợi đi bởi nó là tín hiệu thông báo sự xuất hiện của một rủi ro nào đó, trong khi rủi ro là có thực và nằm ngoài ý muốn của con người. Vì lý do đó, cảm giác bất an phải trở thành một đối tượng nghiên cứu quan trọng của ngành xã hội học.

Như trên đã phân tích, bất an là một trạng thái tâm lý bình thường và phổ biến của con người; nó, thậm chí, còn nói lên sự lành mạnh (về mặt sinh học) của con người, thể hiện sự nhạy cảm của con người trước cả những rủi ro chủ quan và khách quan. Tuy nhiên, khi bất an trở thành trạng thái tâm lý phổ biến của cộng đồng hay của xã hội thì quả thực rất đáng lo ngại bởi nó nói lên sự không lành mạnh của cộng đồng hoặc xã hội. Nói cách khác, nếu bất an trở thành một hiện tượng xã hội phổ biến, chúng ta sẽ phải đối mặt với một rủi ro cực lớn trên phạm vi toàn xã hội - đó là sự khủng hoảng tâm lý có tính chất toàn diện và sâu sắc.

Trước khi đi vào những nghiên cứu sâu hơn, chúng ta hãy bắt đầu với việc lý giải tính phổ biến của cảm giác bất an. Tại sao cảm giác bất an lại trở thành một hiện tượng xã hội phổ biến? Trong quan điểm của chúng tôi, điều này xảy ra khi và chỉ khi xã hội tiềm ẩn đầy đủ các tín hiệu về rủi ro và điều kiện xảy ra rủi ro. Trên thực tế, con người cảm nhận về sự bất an rất khác nhau vì cảm giác không chỉ đơn thuần là một kích thích mà nó còn là hệ quả của quá trình nhận thức. Nói cách khác, con người nhận thức về các lĩnh vực cụ thể của đời sống khác nhau (chẳng hạn kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục) nên có cảm giác về sự bất an rất khác nhau. Do đó, sự xuất hiện phổ biến và triền mien của cảm giác bất an cho phép đi đến kết luận: gần như hết thảy các lĩnh vực khác nhau của xã hội đang tiềm ẩn rủi ro. Một nền kinh tế không chuyên nghiệp, các giá trị không được xác lập một cách minh bạch, con người không còn năng lực tin vào sự trong sạch của chính mình, các giới hạn về mặt nguyên lý, về đạo đức không được kiểm soát và những điều tương tự như thế chính là nguyên nhân của sự xuất hiện phổ biến của cảm giác bất an.

Các phân tích trên cho thấy chúng ta không thể dừng lại ở việc xem xét cảm giác bất an như một hiện tượng tâm lý phổ biến mà phải coi nó như là tham số quan trọng nhất của lý thuyết quản lý rủi ro trong xã hội hiện đại. Chừng nào làm được như vậy, chúng ta sẽ biến xã hội Việt Nam trở thành một đối tượng có thể dự báo trong mắt cộng đồng quốc tế.

Từ cảm giác bất an đến ý tưởng về lý thuyết quản lý rủi ro

Nhiệm vụ của xã hội là phát hiện tính phổ biến của cảm giác bởi tính phổ biến của cảm giác là một thông điệp quan trọng về các trạng thái khác nhau của xã hội. Tính phổ biến của cảm giác bất an cho thấy xã hội đang tiềm ẩn những rủi ro khác nhau trong các lĩnh vực của đời sống. Vì vậy, đi từ tính phổ biến của cảm giác bất an, chúng ta có thể xây dựng lý thuyết quản lý rủi ro trong xã hội hiện đại.

Trước hết, phải thức tỉnh con người một chân lý là cảm giác bất an của mỗi cá nhân phản ánh các nguy cơ, các rủi ro và các cơ hội trong cuộc đời anh ta và do đó, phải nhận ra nó trong đời sống của mình và phải nghiên cứu nó một cách cẩn thận. Cảm giác bất an là cảm giác ban đầu của quá trình con người nhận ra rủi ro, nó chính là tham số quan trọng nhất của lý thuyết quản lý rủi ro. Nếu không nghiên cứu các nguyên lý cơ bản hình thành cảm giác bất an, chúng ta sẽ không thể nghiên cứu rủi ro, chưa nói đến việc dự báo và tìm ra các giải pháp để ứng phó với chúng. Khi chúng ta nghiên cứu, điều tra và thống kê một cách có hệ thống cảm giác bất an của các cá nhân và sau đó, điểm cảm giác bất an trên những khía cạnh khác nhau của cuộc sống, chúng ta sẽ phát hiện ra các rủi ro, những rủi ro đó là rủi ro cộng đồng chứ không chỉ là rủi ro của một cá nhân.

Điều tra xã hội học cảm giác bất an là nghiên cứu các rủi ro của xã hội. Chúng ta đang sống trong một xã hội mà cảm giác bất an rất rõ rệt và phổ biến nhưng không có bằng chứng thống kê hay phát hiện xã hội học nào chứng minh sự tồn tại khoa học của những cảm giác bất an mang tính phổ biến. Điều này cho thấy xã hội không nhận ra rằng điều tra về cảm giác bất an của con người là một nhiệm vụ cần được pháp chế hóa. Nói cách khác, tiến hành các điều tra xã hội về cảm giác bất an và dùng các kết quả đó để dự báo các rủi ro, phát hiện tính phổ biến cũng như nguy cơ của các rủi ro và giải pháp ngăn chặn chúng là nhiệm vụ quan trọng của nhà nước.

Các phân tích trên chỉ ra rằng tính phổ biến của cảm giác bất an là cơ sở để phát hiện rủi ro và nghiên cứu các giải pháp ứng phó. Tình trạng tha hóa về đạo đức, kinh tế, văn hóa và giáo dục đều thể hiện một cách rõ ràng qua cảm giác bất an của con người. Do đó, nó là phương tiện khoa học và hữu hiệu nhất để các chính phủ có thể đo đạc tâm lý xã hội phổ biến và từ đó quản lý xã hội của mình. Thật đáng tiếc là các chính phủ vẫn chưa ý thức được hết tầm quan trọng của công cụ này, dẫn đến tình trạng chính phủ không hiểu rõ đối tượng mà mình quản lý. Điều này không chỉ là hệ quả của tình trạng lạc hậu về nhận thức của chính phủ mà còn nói lên sự xơ cứng của xã hội trước các hiện tượng gây ra cảm giác bất an phổ biến.Đây mới chính là điều đáng sợ nhất bởi nó báo hiệu một sự thoái hóa về nhận thức, về cảm giác và về trách nhiệm trên phạm vi toàn xã hội.


Xây dựng quy trình quản lý rủi ro trên nền tảng những nghiên cứu về Cảm giác bất an

Một xã hội dân chủ là môi trường lý tưởng nhất đảm bảo sự thành công của việc xây dựng quy trình quản lý rủi ro. Sở dĩ có thể kết luận như vậy là bởi xã hội dân chủ cho phép con người bày tỏ cảm xúc của mình một cách chân thật và chính xác; trên cơ sở đó, con người mới có thể nói một cách công khai về cảm giác bất an của mình, nghĩa là cung cấp cho nhà nước những linh cảm hoặc dự báo mang tính chất cá nhân và cụ thể về một loại rủi ro nào đó. Bất an là một cảm giác bản năng, nhưng mô tả cảm giác bất an lại là một hành vi văn hóa. Do đó, để mô tả cảm giác của mình một cách chính xác, con người cần phải có những kinh nghiệm văn hóa, hay nói cách khác, con người cần phải được giáo đục về tính chính đáng trong việc mô tả cảm giác của mình, nghĩa là phải giúp con người nhận ra rằng mô tả cảm giác của mình là một quyền mang chất lượng văn hóa. Dường như, nhân loại luôn luôn khủng hoảng cái mà mình không biết và vụng về trong việc mô tả những linh cảm của mình về rủi ro, điều này góp phần tạo nên sự rối loạn về thông tin - nguyên nhân căn bản của sự bất lực trong việc nhận thức thế giới.

Nhà nước dân chủ cho phép con người mở rộng không gian văn hóa; trên cơ sở đó, con người sẽ ra làm phong phú mình với việc trải nghiệm những kinh nghiệm văn hóa khác nhau – đây chính là tiền đề để biến cảm giác nói chung và cảm giác bất an nói riêng, trở thành những tham số mang tính chất thống kê và dự báo. Từ trước đến nay, các mô hình nhà nước khác không chú trọng lắm đến việc đảm bảo tự do của con người trong việc mô tả khát vọng cũng như cảm giác của mình. Trong khi đó, tự do trong mô tả cảm giác là thành tố đầu tiên và quan trọng nhất tạo nên khái niệm tự do. Nếu con người không tự do trong nhận thức và bắt đầu bằng hình thức sơ khai nhất là tự do trong cảm nhận hay tự do trong việc mô tả cảm giác, thì con người không bao giờ đạt tới trạng thái tự do. Việc khoác lên mình những cảm xúc không có thật của những thành viên khác nhau tạo ra một xã hội không có năng lực dự báo bởi phần lớn các trạng thái cảm xúc - trên tư cách các tham số dự báo - đều giả tạo, và do đó, tham vọng đo đạc cảm xúc nói chung và đo đạc cảm giác bất an nói riêng là không thể thực hiện được.

Một trong những điểm ưu việt của chế độ dân chủ là thừa nhận biểu tình như là phương thức mô tả cảm giác của nhân dân nhằm thông báo cho chính phủ biết về cảm giác bất an của họ. Con người chỉ biểu tình khi họ cảm thấy sự xuất hiện của rủi ro hay nói cách khác biểu tình là công cụ giải tỏa cảm giác bất an của con người, và do đó, nó là một phương tiện để xúc tiến sự hiểu biết lẫn nhau giữa chính phủ và đối tượng mà chính phủ quản lý, tức nhân dân. Vì vậy, chính phủ phải tôn trọng nhân dân, phải đo đạc cảm giác bất an của họ một cách chân thực và chính xác. Đó chính là biểu hiện của một xã hội văn minh.

Để có thể đo đạc chính xác cảm giác của con người, cần xây dựng phương pháp luận khoa học trên cơ sở kết hợp giữa hai loại khoa học là thống kê và dự báo. Thống kê để chỉ ra tính phổ biến của cảm giác bất an trên những lĩnh vực khác nhau, để có con số cụ thể về tỉ lệ và tần suất xuất hiện của từng loại cảm giác bất an cụ thể và qua đó phản ánh chân dung của xã hội. Dự báo kết hợp với các khoa học xã hội khác nhằm chỉ ra loại rủi ro nào có khả năng xuất hiện nhiều nhất trong tương lai, trên cơ sở đó, có tâm lý chuẩn bị và ứng phó một cách chủ động.

Trong những năm gần đây, nhiều học giả đã bắt đầu phân biệt hai khái niệm an ninh con người và an ninh quốc gia, cho rằng an ninh con người quan trọng hơn an ninh quốc gia. Kết luận này hoàn toàn không có tính chất pháp chế hay tính chất khoa học nhưng cũng là một mô tả về cảm giác bất an. Điều này cho thấy đã đến lúc phải chuyển trọng tâm nghiên cứu từ an ninh quốc gia sang an ninh con người. Nghiên cứu về cảm giác bất an chính là tìm cách xác lập mối quan hệ biện chứng giữa an ninh con người và an ninh quốc gia. Rõ ràng, an ninh quốc gia chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở đảm bảo an ninh con người tức là khắc phục những cảm giác bất an cho con người - đó chính là quá trình tiệm cận đời sống lý tưởng của con người.

Kết luận

Xã hội nào cũng có sự dịch chuyển - đó là kết quả của hai khuynh hướng, thứ nhất là khát vọng của con người hướng tới những điều tốt đẹp hơn, thứ hai là phản ứng của con người trước sự bất an. Nếu sự dịch chuyển của xã hội bị chi phối bởi cảm giác bất an là chủ đạo, nó sẽ rơi vào trạng thái bị động, báo hiệu sự xuất hiện của tình trạng suy thoái ở những lĩnh vực khác tượng xã hội phổ biến. Chúng ta sẽ không phân tích được cội nguồn của nếu không đi từ gốc của bất an, mọi ứng phó tiếp theo để giải quyết các vấn đề sẽ là không có cơ sở và đến lượt mình, điều này sẽ dẫn đến một xã hội hoảng loạn và khủng hoảng toàn diện.

Nguồn: Sách Suy tưởng, từ www.chungta.com





Saturday, October 30, 2010

HÃY YÊU NHƯ CHÍNH MÌNH NGƯƠI


HÃY YÊU THƯƠNG NGƯỜI KHÁC NHƯ CHÍNH MÌNH NGƯƠI

Tác giả: NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

Cuộc đời của Chúa Jesus là một bằng chứng mãnh liệt cho sự hòa giải. Chính xác hơn, Ngài là sự thất bại của cuộc khải hoàn về vũ khí, để lên ngôi một tình yêu thẳm sâu nhất của giá trị con người.

"Hãy tra gươm vào vỏ, vì kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm", đó là câu nói của Chúa Jesus khi thấy một môn đệ của Ngài rút gươm ra đánh lại quan quân của triều đình đến để bắt Ngài. Cuộc đời của Chúa Jesus là một bằng chứng mãnh liệt cho sự hòa giải. Chính xác hơn, Ngài là sự thất bại của cuộc khải hoàn về vũ khí, để lên ngôi một tình yêu thẳm sâu nhất của giá trị con người.

Ngài nói với các môn đệ rằng, hãy tiến về Jerusalem để xem ta chết bị đóng đanh trên thập giá. Trời ơi, các môn đệ theo Ngài, là để được hưởng vinh hoa phú quí của trần gian, được thấy thầy mình giỏi, thấy thầy chiến thắng thế gian, thấy thầy khải hoàn ca, và ta được chia phần. Nhưng mà Ngài lại nói, hãy khải hoàn về nơi đóng đanh ta, như vậy có khác gì một cuộc rút chạy mà vẫn buộc phải nhìn thấy thất bại?

Nhưng tình yêu đích thực ở đời là gì? Yêu người có nhiều tiền ư, dễ lắm, ai chẳng yêu được, nhưng hãy nhìn kia có bao nhiêu kẻ giầu có sa cơ lỡ vận đã bị kẻ hầu người hạ, cho đến chính vợ con xa lìa coi rẻ! Yêu người có quyền ư, dễ lắm, nhưng cũng đã có bao kẻ quyền lực khuynh loát tăng lên cùng những người yêu mình, và cũng sụt lở xuống theo chiếc ghế của mình. Đẹp trai ư, xinh gái ư, có tình yêu dễ lắm...

Vậy thì tình yêu cao cả nhất là tình yêu dành cho một con người đã bị lột sạch, lột nhẵn như chùi. Và Chúa Jesus khi bị treo trên thánh giá với quần áo bị lột sạch từ ngoài vào trong, chỉ còn độc một chiếc khố trên mình, trời ơi, một người là con Đức Chúa Trời, người sáng thế và cai quản cả vũ trụ, mà chịu khuất thân phải chịu nhục hình, chịu đày ải, chịu sa sút đến trắng tay về thân phận, chịu đáng thương vậy sao?

Khi hai bên tham chiến muốn hòa giải thì điều kiện đầu tiên luôn luôn là: anh sẽ đến nơi hòa đàm mà không đem theo vũ khí. Chúa Jesus cũng vậy, Ngài đã tự tước mọi vũ khí, tước mọi ưu quyền nước trời của mình, để tiến hành một cuộc hòa đàm với những thế lực đầy vũ khí bạo lực của trần gian, để đưa ra thông điệp sót lại dưới đáy của tình yêu.

Tình yêu đích thực, giống như những người chồng bị tù đày vì bất công, họ chẳng còn cái gì cả tiền bạc lẫn chức tước, lẫn danh dự bị người đời ruồng rẫy khinh ghét, vậy mà sau nhiều năm trời, người vợ vẫn lận đận tần tảo vào thăm nom tiếp tế cho chồng. Như vậy mới là tình yêu đích thực. Chúa Jesus cũng muốn đưa ra một thông điệp tương tự như vậy, Ngài muốn nói, ta muốn từ bỏ mọi ưu thế con trời để yêu thương nhân loại người trần mắt thịt. Đó hẳn là tình yêu cũng như lời hòa giải lớn nhất.

Cụ thể Ngài dạy: "Hãy yêu người khác như chính mình ngươi", và "Nếu ngươi muốn người khác làm cho ngươi cái gì, thì hãy làm cho họ điều đó". Vậy thì, nếu ta muốn được tặng hoa hồng, ta hãy đem hoa hồng tặng người. Nếu ta muốn uống một cốc nước hãy đem cốc nước cho người. Ta muốn ăn no, muốn mặc ấm, muốn ở nhà lầu, muốn có vợ đẹp, con khôn thì hãy mang tặng hoặc chúc phúc cho người có được điều đó. Trái lại, nếu ta muốn yêm ấm, không muốn chiến tranh, thì đừng có đẩy người khác vào cuộc chiến, đừng cướp đất của người, đừng đánh người, đừng muốn vợ chồng người.

Chúa Jesus còn đưa ra một phương ngôn nổi tiếng để hóa giải triệt để sự tranh giành, thù hận: "Ai tát má bên phải, hãy đưa luôn má trái cho họ, còn nếu ai giật áo ngoài của ngươi, thì cũng đừng ngăn họ lấy luôn áo trong".

Nhân loại cãi cọ, xung đột đánh nhau là do bất đồng chính kiến, cụ thể hơn là do tự cho mình là đúng người khác là sai, sau khi "sư nói sư phải vãi nói vãi hay", thế nào cũng gia tăng tiếng bấc ném đi tiếng chì ném lại, phát sinh mâu thuẫn rồi xung đột. Chúa Jesus dạy:"Ngươi đừng có nhìn thấy cái rác trong mắt người khác mà không nhìn thấy cây xà trong mắt mình". Đó là cách chỉ nhìn thấy lỗi của người dù nhỏ như cái rác, nhưng lại không chịu thấy cái lỗi của mình to như cây đa. Là cách như người Việt nói:

Chân mình còn lấm bê bê

Lại còn cầm đuốc mà rê chân người

Sau khi nhìn người khác bằng cái nhìn định kiến xấu xa, người ta liền đưa ra những phán xét bất công, khiến người khác không chịu liền phản kháng trở lại, dẫn đến những xung đột đáng tiếc, bởi vì một khi lời nói bất lực thì chân tay liền lên tiếng. Muốn tránh được bất đồng và xung đột, con người nhất khoát phải cần đến công lý, bởi chỉ có công lý đứng ra phân giải người ta mới vạch ra, ai có lỗi như cái rác, ai có lỗi như cây đa.

Chúa Jesus dạy về công lý như sau: "Ở đâu có hai ba người nhân danh ta họp lại thì ta ở giữa họ" (Matheus 18-20). Người Việt đã mô tả về tính của công lý như sau: Trời biết , đất biết, quỉ thần biết. Nghĩa là, khi người ta định làm việc gì khuất tất, tưởng có thể giấu diếm được ai, nhưng họ đã lầm, người ta có thể giấu được những người xung quanh, nhưng không thể giấu được trời - lúc nào cũng ngự trị trên đầu, không giấu được đất là chỗ con người luôn dẫm chân lên, và không thể giấu quỉ thần lúc nào cũng có mặt vô hình ở khắp nơi. Người Việt cũng bảo: "Cái kim trong bọc mãi cũng phải tòi ra". Nghĩa là chuyện dù có kín mấy sẽ có ngày bị bại lộ mà thôi, vì thế đừng nên làm điều gì khuất tất, sẽ có ngày bị lôi ra ánh sáng mà thân bại danh liệt.

Chúa Jesus thì công bố chắc về con đường của sự thật và công lý: "Cái gì nghe trong bóng tối hãy nói nơi sáng sủa, sự gì nghe thì thầm trong tai hãy nói trên mái nhà". Chúa được mệnh danh là Ngôi Lời, nên Ngài rất chú trọng đến chức năng thống soái của lời, giống như triết học phương Tây đã xác định: ngôn ngữ là tư duy. Ngài khuyên bảo mọi người, muốn có công lý chung, thì mọi người phải tuyên xưng mọi việc ra bằng lời, khi đó lời riêng mới gặp ngôn ngữ chung. Người Việt cũng có câu: "Khôn ngoan đến cửa quan mới biết",muốn nói rằng, ra nơi cửa quan công đường, người ta mới chứng tỏ được khả năng đích thực mang tính công lý của mình. Người Việt cũng chê những kẻ "ăn xó mó niêu" là thứ anh hùng nói trong xó bếp chẳng có gì để bàn.

Chúa Jesus còn dạy: Con người không có quyền phán xử lẫn nhau, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền phán xử. Tại sao vậy? Vì ở đời mấy ai chịu ai, ai cũng cho mình đúng, ai cũng cho mình tài, "mèo khen mèo dài đuôi" hoặc "thổi kèn khen lấy"... Khi gặp việc lại không dựa trên bât cứ sở cứ nào của công lý , thì làm sao có thể phán xử người khác một cách công bằng.

Trong Kinh Cựu Ước, Chúa Trời còn nói đại khái rằng: Hãy đi lên Jerusalem, nếu tìm thấy một người công chính ta sẽ tha cho cả thành. Lời nói đó có nghĩa, con người nếu không có công lý, thì khác gì bầy ong, bầy kiến...

Nói thế chứ bầy ong và bầy kiến còn biết tạo ra một xã hội rất ngăn nắp, qui củ, và kỷ luật, ong chúa sinh nở, ong thợ xây tổ, ong chiến không hề biết sợ hy sinh lao vào chiến đấu đến đứt nọc mà chết, còn ong truyền giống không hề biết ân ái đào hoa khoái lạc lần đầu cũng là lần cuối để chết... Tất cả đều hoàn thành bổn phận một cách vẹn toàn, không có con nào ganh tỵ, không có con nào chơi xấu, không có con nào lười nhác hay lẩn trốn. Nếu xã hội con người không có công lý, chỉ còn là một tổ chức hỗn quân hỗn quan thì có bằng bầy kiến không? Nếu vậy thì sống cũng để làm gì?

Nhưng Thiên Chúa cũng không phải là đấng cự tuyệt chiến tranh đơn thuần mà chính Ngài lại tuyên xưng: "Đừng tưởng ta đến để đem hòa bình cho thế gian, ta đến không phải để đem hòa bình mà là gươm giáo, ta đến để phân rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, nàng dâu với mẹ chồng, và kẻ thù của người ta chính là người nhà của họ". Đây là một đoạn rất khó hiểu của Kinh Thánh, liệu nó có mâu thuẫn với câu "Hãy tra gươm vào vỏ..." hay không?

Chúng ta đều biết có một sự thật mà cả thế giới đã thừa nhận rằng: Người làm cho ta đau nhất chính là người thân ta nhất. Câu này cũng được chính Đại văn hào Shakespeare tuyên ngôn: Những bi kịch của nhân loại phần lớn xảy ra trên giường ngủ. Vậy đó người vợ hay chồng là bạn đời gối ấp má kề nhất của người ta, vậy mà chính người sẽ đem lại bi kịch theo kiểu "anh hùng khó qua ải mỹ nhân".

Tại sao có bi kịch đau khổ này? Vì lẽ: thứ nhất, chỉ có người thân nhất của ta như vợ, hay con, hay đồng nghiệp mới có thể làm ta đau khổ nhất. Thứ hai, trong tất cả các gia đình sẽ không có sự tiến bộ nếu không có vết nứt thế hệ.

Vết nứt thế hệ chính là sự chuyển tiếp bản lề tiến sang một cung độ khác của sự tiến bộ. Con trai phải khác rồi mâu thuẫn với cha, con gái mâu thuẫn với mẹ, con dâu mâu thuẫn với mẹ chồng, vì đó là hai thế hệ khác nhau, và cũng là điều kiện môi trường nền tảng để người ta tiến hành hòa giải.

Vậy thì cái mà Chúa gọi là gươm giáo chính là sự hun đúc của một nội tại tính để tạo ra sức mạnh của dịch chuyển, của tiến bộ. Gia đình không thể tiến bộ bằng cách im hơi lặng tiếng, mà chỉ tiến bộ bằng cách cọ xát lẫn nhau, giống như lửa được thử vàng. Chính các chuyên gia về gia đình mới đây đã phát hiện: việc cãi cọ của các cặp vợ chồng chính là tập võ đối kháng để yêu nhau hơn, và cũng là dấm ớt cho vào thức ăn để ăn ngon hơn.

Nhưng Chúa Jesus cũng dạy: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì thiếu". Khi lúa chín, nếu chúng ta không đem liềm hái gặt lấy, để nó rơi xuống đồng thì thật độc ác và phí phạm. Vậy thì trong gia đình cũng như xã hội, khi thấy liềm hái, thì không có nghĩa là đánh nhau, mà đó chính là giải pháp để người ta gặt lấy những gì chín mọng. Nào lúa, nào nho, nào cá thịt để bày lên bàn tiệc của đời mình.