Tuesday, September 28, 2010

BỨC THƯ CỦA QUAN THAM BỊ TỬ HÌNH


Văn Cường nguyên Giám đốc Sở Tư pháp, nguyên Phó Giám đốc Sở Công an Tp. Trùng Khánh- TQ, do phạm tội tham ô (nhận hối lộ hơn 12 triệu NDT, không thuyết minh được số tài sản trị giá hơn 10 triệu NDT..) hủ hóa, bao che cho bọn mafia.. đã bị toà án thành phố này tuyên án tử hình ngày 7/7/2010.

Trước khi chết, đồng chí Cường đã để lại bức thư, xin lược dịch giới thiệu để bà con đọc cho zui.

“Ta sống không nổi mấy ngày nữa đâu. Ta không ngờ lại bị phán tử hình, nhưng đã đến bước đó thì kháng cáo lên trên cũng chẳng có kết quả gì. Ta đây, cả cuộc đời làm công an, đã xử rất nhiều vụ án lớn, đã giết rất nhiều người, trước đây đã từng lo rằng sẽ có một ngày sẽ chết trong tay người nhà một số kẻ bị mình xử tử, không ngờ cuối cùng lại bị chết trong tay đồng chí của mình…Thế nhưng, ta đã nghĩ ra, những sự việc mà ta tham dự và biết được quá nhiều, nếu ta không chết sẽ có rất nhiều đồng chí ăn không ngon ngủ không yên. Không giết ta, hậu hoạn lớn vô cùng, ta chết sẽ có lợi cho một số đồng chí…Vì vậy có mấy câu muốn nói rõ trước khi đi xa.

Nói ta tham ô bao nhiêu tiền, chơi bao nhiêu con gái. Ta không phủ nhận điều đó. Nhưng điều ta muốn nói là, điều đó đáng trách ta nhưng cũng không đáng trách ta, tất nhiên trách nhiệm của ta là lớn hơn. Bất kể là ai nếu đặt vào vị trí của ta đều sẽ tham ô nhiều như vậy, chơi gái nhiều như vậy, thậm chí còn nhiều hơn. Có một số nữ học sinh, ta không chơi thì các đồng chí khác cũng sẽ chơi. Nói Văn Cường ta đây cưỡng hiếp, ta mà lại phải cưỡng hiếp à?…Ai chẳng biết cán bộ hiện nay nếu không tham ô, không háo sắc thì ai dám tin, dám trọng dụng anh? Dù anh làm việc có tốt đi nữa cũng chẳng có ích gì! Loại cán bộ giống như ta, trong cả nước nếu không nói là mấy triệu thì chí ít cũng phải tới mấy chục vạn người. Chỉ bêu xấu rồi giết một mình Văn Cường, thì giải quyết được cái gì?

Điều ta muốn nói nữa là, con đường ta đi từ một anh cảnh sát nhỏ bé tại huyện Ba rồi lên tới chức Phó Giám đốc Sở Công an một thành phố trực thuộc trung ương, không phải là chỉ bằng con đường tham ô…Đối với ta trước tiên là công việc sau mới đến tham ô… Ai cho ta cái quyền muốn làm gì thì làm ở Trùng Khánh? Nhiều người biết rõ một số việc ta đã làm nhưng lại giả bộ là không biết? Đã không muốn để ta sống thì ta sẽ nói hết mọi điều ra: ta tham không chỉ có số tiền đến thế! Vậy số còn lại đi đâu? Tất nhiên là đến nhà người ta, có việc ta nhờ người làm, có một số việc tự ta làm. Nhờ người khác làm không có tiền phỏng có được không?. Những đồng chí lấy tiền của ta cũng như những đồng chí đưa tiền cho ta hiện nay đang hướng dẫn quần chúng tham quan những trưng bầy chứng tích tham ô của ta. Ta không phủ nhận tính chân thực của các chứng tích đó, nhưng nếu các người tới nhà những đồng chí đó xem xét sẽ thấy chút quà bẩn thỉu mà ta nhận thật đáng thương.

Văn Cường ta cũng là người có học… Trước đây ở Trung Quốc, đã có rất nhiều người vỗ tay khen ngợi việc chặt đầu bọn tham nhũng. Thế nhưng sau những cái vỗ tay khoái chí đó mọi việc vẫn như cũ. Mấy trăm năm qua Trung Quốc có thay đổi không? Ta thấy chẳng thay đổi gì cả. Giết ta chẳng qua là bịt được mồm một mình ta, nhưng liệu có bịt được nguồn gốc hủ bại không? Hôm qua trên đường phố Trùng Khánh có rất nhiều người đốt pháo. Ta không biết ba năm sau liệu bọn họ lại có phải đốt pháo nữa hay không? Sợ rằng đến lúc đó những người đã bán đứng ta sẽ lại ca ngợi ta và dân chúng không rõ chân tướng lúc này sẽ thấy Văn Cường cũng có chỗ tốt đấy chứ. Khi ta làm Phó Giám đốc công an Trùng Khánh tỷ lệ phạm tội có cao nhưng so với mấy thành phố lớn khác, Trùng Khánh tốt hơn nhiều…

Biến ta thành người như thế này là do chính xã hội, do chính chế độ này. Ta nói như vậy không phải là muốn đẩy hết trách nhiệm cho người khác. Nếu như năm đó ta không rời huyện Ba, yên tâm làm một anh cảnh sát bình thường ở đó thì hôm nay ta không phải như thế này. Tham công danh lợi lộc là sai lầm lớn nhất đời ta. Sau khi ta chết con cháu không lấy họ Văn nữa mà đổi thành họ khác, và con cháu các đời từ nay trở đi đừng theo nghiệp chính quyền, đừng làm quan cộng sản, hãy xa lánh công danh lợi lộc.

(Theo T/C Văn hóa Nghệ An)

Sunday, September 19, 2010

TRÊN TINH THẦN NÓI CHUNG COI NHƯ LÀ TÓM LẠI


Vở diễn đúng theo kịch bản vừa công bố thì hài hước lắm

“Trên tinh thần nói chung – coi như là tóm lại ”.

Bạn tôi bảo: “Đảng cộng sản đã đưa ra dự thảo Nghị quyết đại hội, Quân viết gì đi chứ”.

Tôi nói: “Trên tinh thần, nói chung, coi như là, tóm lại”.

Bạn bảo, “cái gì ?” Tôi hát liền liên tục hai nhịp: “Trên tinh thần nói chung coi như là tóm lại…” . Bạn nghe, nghiêng nghiêng mái đầu. Ừ, nghe qua có vẻ rất đầy đủ, logic.

Nhưng nó là cái gì ?

“Giống dự thảo Nghị Quyết thôi” – Tôi bảo - Đó chỉ là một vỏ ngôn ngữ không chứa một nội hàm nào cả. Nghe như vừa vĩ mô lại vừa vi mô, vừa tổng thể mà lại chi tiết nhưng chẳng có ý. “Trên tinh thần nói chung, coi như là tóm lại” dùng một ngoại diên mù mờ để lừa đảo trí não trong một trật tự có vẻ logic.

Bạn tôi bảo: “Đúng vậy, dự thảo này có thể dùng cho Đảng Cộng sản Tuynisi hay đảng Mác Xít Thổ Nhĩ Kỹ…triển khai thực hiện”. Mấy đảng này mà làm được đúng như cương lĩnh thì họ sẽ nhảy vọt lên thống lĩnh quốc hội dù có đang lìu tìu chưa đến 5% đại biểu.

Nghe nồng nàn và tha thiết lắm, đỉnh cao trí tuệ loài người lắm….

Dự thảo thật là hoành tráng, nghe vang vang, hao hao giống như Ngài chủ tịch hôm nao chém gió phía bên kia địa cầu. Đầy tinh thần quốc tế cộng sản. À, mà sao trong Nghị Quyết thiếu phần sang giúp đỡ giải phóng Palestine hay Nigeria…đẩy mạnh tinh thần quốc tế vô sản để đứng lên lật đổ chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới…

“Vậy thì góp ý đi” – Bạn lại bảo.

Nhưng góp ý ư ?. Tôi hỏi Trần Mạnh Hảo, Phan Thế Hải…Họ bảo quá chán rồi, Các anh đã vắt hết tâm huyết cho một lần trong đại hội trước. A Hải bảo, những kiến nghị 5 năm trước vẫn còn nguyên tính thời sự, dùng lại cũng được. Nhưng “Thôi chú ạ” như “nước đổ đầu vịt”, “đàn gảy tai trâu”…Không những thế, sau khi góp ý lần trước, công an Sài gòn theo dõi Nhà văn “ly thân” từng bước, Công an Hà Nội hù dọa anh Hải đủ điều…

Tôi cũng đã từng viết, từng góp ý với một nguồn cảm hứng thôi thúc bởi những người mang áo tơi chăn vịt, những bà mẹ còng lưng trên đám ruộng còm….Tôi đã viết, với tấm lòng tha thiết, mong một thay đổi chân thành…. và tôi gặp hạn.

Dẫu sao Nghị Quyết này vẫn có thể dùng để luyện trí não, củng cố văn hóa đọc đang xuống cấp của đại bộ phận dân Việt. Tuy nhiên, kèm theo dự thảo Đảng cầm quyền cần phải xuất bản gấp một từ điển thuật ngữ đảng dùng, bởi vì cách hiểu cuả đảng khác xa cách hiểu của thế giới tiến bộ. Ngôn ngữ đảng dùng là một ngôn ngữ vừa ngoa ngôn, lộng chương vừa tù mù khó hiểu. Câu nào cũng dùng những động từ, danh từ, tính từ, trạng từ “vĩ đại” và “bing boong” nhất.

Tôi nhớ có lần Đức Cha Nguyễn Chí Linh đã chứng minh rằng một Linh Mục ở Địa Phận Thanh Hóa không thể là tác giả của một “Văn bản Hiến đất” mà chính quyền giả mạo làm ra vì trong đó có quá nhiều từ “Thành công, to lớn, vĩ đại, muôn năm, củng cố, tăng cường, đẩy mạnh, chú trọng, trung tâm, then chốt...”.

Lại nhớ, có lần tại Bộ Thủy Sản, Đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, khi đó là phó thủ tướng, đến phát biểu tại hội nghị toàn Ngành. Ông nhìn những doanh nhân bên trái và nói: “Cần tập trung đất đai của những ngư dân để làm những vùng nuôi tôm lớn có giá trị cao”. Dừng một lúc, Gã nhìn những ngư dân sắp mất đất bên phải, lại tiếp: “tuy nhiên phải giữ gìn đất đai cho những người ngư dân nuôi trồng thủy sản kiếm thêm thu nhập”. Và cuối cùng ông kết luận: “Ưu tiên phát triển trang trại lớn nhưng đẩy mạnh và tăng cường các ao nuôi tôm nhỏ”.

Qủa là: “Trên tinh thần, nói chung, coi như là, tóm lại” ai cũng thấy vui. Trước đây Nghị Quyết có rất nhiều từ như: “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp nhẹ, Tăng cường sản xuất song song với thúc đẩy dịch vụ…” làm cho kinh tế nước ta lạc vào mê hồn trận, phát triển toàn là “mũi nhọn”, theo hình gai quả mít.

Dự thảo Nghị quyết đảng hiện nay đang là như vậy. Nếu ta thay đổi một số cụm từ thì nó cũng chẳng khác gì đại hội X cách đây 5 năm và dự thảo đại hội IX cách đây 10…và cũng như thế nếu lần về dự thảo đại hội VI. Tất cả chỉ là vờn quanh các khái niệm, đánh tráo các nội dung, xóc lại hình thức và be bờ đắp đập các khái niệm đã lạc hậu chờ chực tòi ra….

Nhưng nói chung, kỹ năng viết kịch bản có tiến bộ qua từng đại hội.

Riêng lần này, tác phẩm copy này đã ra đời sớm hơn 1 tháng. Nhưng lẽ ra phải ra cách đây 1 năm khi một người tôi quen làm ở Tạp chí Cộng Sản đã cùng hơn 200 thành viên khác được cử đi Trung Quốc đọc kịch bản Đại hội của họ lần trước và copy gần y nguyên.

“Trên tinh thần, nói chung, coi như là, tóm lại…” Lời văn diễn đúng tiếng Việt về dùng từ, dùng câu và bố cục của toàn bộ bài văn. Nhưng hồn văn thực sự đã chết, không những trong thực tế mà còn trong tâm hồn của những người thiết tha với Tổ quốc.

Saturday, August 28, 2010

TẢN MẠN VỀ PHÁP LUẬT - LƯƠNG TÂM


Ảnh chụp cùng với Mẹ Anh Định

Lâu quá không viết blog, giờ ngồi trước máy lại tự nhiên thấy nhiều điều bâng khuâng viết mấy dòng tùy bút, trải lòng mình gửi đến những người còn quan tâm đến thời cuộc, tình đời, tình người…

Hôm nay ngồi với một người bạn thân học chuyên toán, đã từng vượt qua cầu ở Maxcơva, dũng cảm trèo lên những chiếc xe tăng của Tông thống Enxin vào tháng 8 năm 1991, nã đạn vào quốc hội Nga, kiên quyết dẹp tan “Uỷ ban tình trạng khẩn cấp” và đánh dấu chấm dứt hoàn toàn cho chế độ cộng sản toàn trị ở Liên Xô. Người bạn nói: “ở tuổi 21, tôi tự hào là người sờ được vào một biến thiên quan trọng của lịch sử nhân loại”

Người bạn đó, cầm trên tay cuốn sách “Tài ba của Luật sư” chân thành viết lời đề tặng. Cuốn sách do Bác Luật Sư. Nguyễn Ngọc Bích, người làm việc cùng văn phòng với Luật sư Lê Công Định – viết, được nhà xuất bản trẻ ấn hành tháng 6 năm 2010. Nhớ khi vào Văn Phòng D.C cách đây 3 năm, Luật sư Định giới thiệu về Bác Bích với những từ ngữ thật là kính trọng. Hai người chủ chốt thành lập ra Công ty luật hợp danh DC, nay mỗi người một cách, dường như đang trở nên tốt đẹp hơn.

Tốt đẹp hơn với Anh Định ư ?. Đúng, ít nhất là trong giai đoạn này. Sau khi vào thăm gia đình anh cách nay 2 tuần. Buồn vì Ngọc Khánh đã đi Mỹ với những dự định riêng tư nhưng chỉ 2 ngày sau Mẹ vui mừng báo tin là Anh đã được về Chí Hòa, ngay trong thành phố, không còn ở Xuân Lộc nữa. Những quả cam mình mang vào thăm, Mẹ chưa kịp ăn thì nhận được tin con đã về Chí Hòa nên vội vàng cầm đi thăm anh luôn. Có thể mẹ không nói, nhưng anh ở trong tù, chắc hiểu tình thân. Càng vui hơn, khi được biết anh được làm người tù quản lý thư viện của trại giam.

Nhớ, lâu lắm rồi, hơn 18 năm Bác Cần bị cầm tù CS cũng nhiều năm làm người giữ sách, Ngày đó: Nhưng người tù bị đi hết các trại cải tạo khác nhau, từ Trại 4, Phố Lu, Yên Bái, Cổng trời, Lào cai….mỗi lần di chuyển niềm vui của Bác Cần là được gánh sách, dù có mệt nhọc bao nhiêu thì cũng kiên nhẫn, âm thầm gánh vì “khi họ bắt mình gánh sách, mình gánh tốt thì chắc chắn đến nơi mới họ sẽ cho mình làm tiếp”. Những cuốn sách hay được Bác chia thành nhiều tập, mỗi tập 1 tay sách, dễ dấu để cho những người bạn tù tâm đắc đem về phòng, và cùng lúc thì nhiều người có thể cùng đọc được. Hôm nay, Anh Định trong tù được làm thủ thư là điều tốt cho anh nhưng mình còn mong anh làm được gì đó hay ho cho các bạn tù quan tâm đọc sách nữa.

Vừa về nhà, lại nhận được tin dữ: “Blog Anhbsg bị tấn công". Mình vào thấy trang Blog chỉ còn một thẻ bài của kẻ tấn công để lại mang dòng chữ “Sinh Tử Lệnh”. Lời thì hay nhưng Lệnh Sinh Tử là điều hệ trọng. Kẻ ra lệnh và người thực thi phải thấu hiểu lòng trời, đạo lý và cả xu thế thời đại nữa. Nếu không chỉ là kẻ ngu, hồ đồ làm hại mình, hại người.

Lại nhớ lại mấy năm trước, khi gặp một nhân vật lãnh đạo trong đảng Việt Tân, mình đã hỏi: “Các anh đấu tranh sao không học CS ngày xưa sản xuất bạc giả, buôn lậu để lấy tiền kháng chiến” . Anh ấy trả lời: “Thời thế khác rồi, mình không làm được thế vì đó là vi phạm pháp luật quốc tế, Interpol sẽ không bỏ qua”. Mấy hôm sau anh Uỷ viên TW đảng đó lại lại giới thiệu cho một người được coi là cực siêu về IT của Việt Tân, nghe qua thì cảm thấy giỏi thật. Tôi hỏi: “Tại sao tự coi là giỏi vậy sao các anh không tấn công, đánh sập các trang web đang tuyên truyền chống lại và vu cáo các anh ?, treo biển – Đảng Việt Tân muôn năm”. Lại được trả lời: “Không được, Internet cũng có luật, mình không thể tấn công được, vì vi phạm pháp luật của Quốc tế, kiểu gì rồi họ cũng lần ra người tấn công và khi đó mình cũng mất uy tín”.

Anhbasg là người quen đã lâu, giúp đỡ cho mình một số việc kinh doanh nhưng anh ít khi hoàn thành nhiệm vụ vì dành hầu hết thời gian và niền đam mê cho việc post bài lên blog. Thôi, mình cũng thấy rất dễ thương, không trách vì anh đang làm điều tốt cho người đọc trong xã hội bưng bít thông tin này. Thế nhưng hôm nay Blog anh lại bị tấn công. Mình thấy buồn thật !

Chúng ta đã bước sang năm thứ 10 của thế kỷ 21, Nhân loại đang tiến những bước dài đến văn minh, nơi mà tính pháp quyền đã trở nên ngày càng sâu rộng, không những vậy những giá trị như lương tâm, đạo đức, tôn giáo…đang được đề cao, thì “Ngay tại đây và Bây giờ”, Người ta vẫn cứ ngang nhiên vi phạm, cả luật pháp quốc tế và lương tâm nhân loại.

Wednesday, June 02, 2010

SỰ THẬT VỀ THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG


NHỮNG BÍ ẨN VỀ THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG
Bài viết sau đây của một người ký tên Hoàng Dũng, Đang làm việc ở Văn Phòng Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam, được blog “Tin Lề Trái” đăng vào ngày 30 tháng 5 năm 2010. Trong một xã hội văn minh thì lý lịch, hoàn cảnh xuất thân, sự nghiệp công tác của các Nhà hoạt động chính trị được công khai rõ ràng cho toàn dân biết. Mọi sự che giấu đều bị các đảng phái hoặc ứng viên đối lập và truyền thông phanh phui. Ở Việt Nam, do không có đa nguyên đa đảng và tự do báo chí, Nhân dân bị mất một quyền rất quan trọng đó là: “Quyền được biết về người lãnh đạo mình”. Bởi vậy những thông tin về đời tư thường kích thích sự tò mò tìm hiểu. Tôi tin bài viết có độ khả tín, xin phép đăng lại, coi như là cung cấp một góc nhìn về một số nhân vật cao cấp, đặc biệt nhân vật Thủ tướng- Đang lãnh đạo Chính phủ Việt Nam.
---------------------o0o------------------
Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là “văn hoá phẩm đồi trụy”. Sài Gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi – những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào – Sài Gòn đúng thật là “hòn ngọc viễn đông”. Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là “tàn dư của chế độ cũ”.
Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng. Một số những chiến sỹ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ – Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả là bị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.
Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn “Bên giòng lịch sử” của linh mục Cao Văn Luận, hay “Những ngày chưa quên” … Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật. Một cuốn sách hình như có tựa đề là “Những bóng ma trong hồng trường” viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô Viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô Viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.
Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh.
Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, “đào sâu chôn chặt”, suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.
Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam cụ Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (cụ vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng cụ đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư cụ Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, cụ sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo. Cụ ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm cụ vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, cụ ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.
Hồi ấy phương tiện đưa đón cụ chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của cụ đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 “xoáy nòng” bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police “còi hụ” hay xe “bồ câu trắng” bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe cụ nhắc anh lái xe “chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ”, cụ biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.
Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều cụ lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi cụ xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy cụ mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.
Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của cụ viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải cụ đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho cụ biết. Đúng theo tinh thần “Nói Và Làm”.
Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông “Nói Và Làm” nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như cụ thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.
Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, cụ càng trở nên trầm tư hơn. Nếu ai có điều kiện lui tới gặp cụ tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của cụ. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái cụ, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà cụ chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.
Sau này khi cụ Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với cụ nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm cụ, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp cụ lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Cụ tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.
Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của cụ tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, cụ ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm cụ, thấy cụ có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm cụ vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng cụ bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là cụ muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.
Vừa ngồi xuống là cụ hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không ?
Tôi đáp : Dạ, có biết chứ ạ ! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?
Cụ lại quay sang hỏi : Thế cậu có biết cái tay Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?
Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.
Bỗng cụ ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.
Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất : Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.
Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng cụ Hồ gặp những thiếu thốn và khó khăn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ ở Trung quốc nhưng đã bị phản đối (đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung quốc công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo “Bác Hồ có vợ ?” được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước– Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức.
Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm). Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tính dục. Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên cụ Hồ đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ”), do vậy cụ Hồ có một ấn tượng và thiện cảm đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị. Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.
Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng “cổ lai hy” rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?
Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, cụ Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.
Thế là cụ lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.
Theo cụ Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và cụ còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.
Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sỹ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.
Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân – Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.
Sau buổi tối hôm ở nhà cụ Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng cụ Hồ và thao túng cả Bộ chính trị ? Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá !
Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.
Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây
Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sau đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng, thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).
Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn. Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát.
Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả. Phải trải qua năm, sáu năm “thực tập” ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ “mớm” cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải “nói vo” anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả. Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp !
Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của cụ Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước). Tư Thắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi
(tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.
Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài Gòn Tư Thắng mới ghé qua. Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước … Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661). Như vậy có thể hiểu được đây chính là những “sân sau” của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó !
Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh) để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.
Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau. Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác. Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Bởi vì sự bè phái và những âm mưu thâu tóm quyền lực là những nguyên nhân lớn nhất gây nên đổ vỡ tan rã trong Đảng, đây là điều mà Hồ Chí Minh đã cảnh báo từ rất sớm.
Trong thực tế chế độ ta chỉ chấp nhận một Đảng duy nhất lãnh đạo, những chia rẽ và yếu kém trong Đảng dứt khoát có nguy hại đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống nhân dân. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.
Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, sự tan rã chế độ sẽ là tất yếu. Rồi tập đoàn Dũng – Thắng – Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?
Những sự việc cụ Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.
Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.
Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai.
Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.
Hoàng Dũng,
Hà Nội, Cán Bộ Văn phòng Trung Ương

Wednesday, May 19, 2010

TRUNG QUỐC ĐÃ MUA ĐỨT CHÂU PHI


Lời người dịch: Trung Quốc ngày càng lấn át trên biển Đông cũng như ở biên giới phía Bắc. Không những thế, họ còn thò tay vào tận Tây Nguyên qua các dự án khai thác Bauxite. Gần đây, những cánh rừng đầu nguồn của nước ta bị họ chiếm đoạt qua những hợp đồng thuê mướn dài vài chục năm với giá hết sức rẻ mạt.


Năm ngoái, một báo cáo của bộ Xây dựng đã cho biết, họ trúng thầu hầu hết các dự án xây dựng lớn ở Việt Nam . Công nhân Trung Quốc sang làm việc chui đã nằm ngoài tầm kiểm soát của bộ Lao động và Thương binh Xã hội, gây ra nhiều tệ nạn thậm chí xung đột ở những vùng mà họ cư trú.

Ở châu Phi, Trung Quốc đã lũng đoạn cả về kinh tế lẫn chính trị. Bài dịch (1) hy vọng cung cấp tới bạn đọc một cái nhìn về hiểm họa Trung Quốc đang ngày một gia tăng với đất nước ta.


—————————————————


Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ những năm đáng ghi nhớ của châu Phi, khi 17 quốc gia của lục địa này cùng giành được độc lập. Ngày nay, những người châu Á – mà chủ yếu là Trung Quốc – đã thay thế các cường quốc thực dân cũ để tiếp tục các cuộc chinh phục. Và có thể, nó sẽ tạo ra cơ hội để giải quyết những bế tắc của châu Phi?

Trong các chuyến bay giữa thủ đô các nước châu Phi, thường có các hành khách đi du lịch với hộ chiếu của Trung Quốc. Tới châu Phi là các công nhân Trung Quốc, giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, giới ngoại giao, các thương gia lớn và cả những người với mơ ước mở một cửa hàng nho nhỏ ở một nơi nào đó tại Uganda. Trong những năm gần đây, hơn 1 triệu người Trung Quốc đã tới châu Phi, ở Algeria khoảng 50.000, Angola lên tới hơn 100.000, còn ở Nigeria số người Trung Quốc sống ở đây nhiều hơn so với người Anh trong thời kỳ thuộc địa. Làn sóng di dân này bắt đầu từ mười mấy năm trước và tăng mạnh trong vài năm gần đây.

Khởi đầu vào tháng Năm 1996, khi Giang Trạch Dân đi thăm châu Phi trong lúc lục địa này đang bị phương Tây quên lãng.

Tại Addis Ababa (thủ đô của Ethiopia – ND), Giang Trạch Dân đã nói với các nhà lãnh đạo của châu lục này trong cuộc họp thượng đỉnh của Tổ chức châu Phi Thống nhất rằng: Các công ty Trung Quốc sẽ làm cho các cửa hàng ở châu Phi đầy ắp hàng hóa, còn châu Phi sẽ cung ứng nguyên liệu để Trung Quốc – nhà máy của thế giới – sản xuất hàng hóa cung cấp cho toàn cầu…

Trung Quốc đã nhận ra một điều hết sức đơn giản: Có thể mua tận gốc tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản từ các nhà khai thác và không phải thông qua các trung gian tại Thị trường Nguyên liệu London (LME), nơi thường áp đặt giá khoáng sản cho cả thế giới- ông Richard Dowden, giám đốc của Hiệp hội Hoàng gia châu Phi, có trụ sở tại London giải thích.

Tiếp cận kiểu Trung Quốc

Tại Addis Ababa và thủ đô của một số nước khác, Giang Trạch Dân đã đưa ra nhiều nguyên tắc theo kiểu Trung Quốc. Đổi lại việc kinh doanh, nhượng quyền khai thác mỏ, khai thác dầu hỏa, quyền mua đất, Trung Quốc sẽ xóa nợ, viện trợ và đầu tư lớn, xây dựng các đập nước, trường học, bệnh viện, dinh tổng thống, xây dựng lại đường giao thông bị hư hỏng, cầu cống, đường sắt, hải cảng.

“Ngoài tiền bạc, Trung Quốc cũng cam kết sẽ ủng hộ các chính phủ ở châu Phi”, ông Princeton N. Lyman – chuyên gia của Hội đồng Quan hệ Quốc tế ở Washington, đồng thời là cựu Đại sứ Mỹ tại Nigeria và Nam Phi – nói.

Trung Quốc đã ban tặng cho các nước châu Phi tình hữu nghị vô điều kiện và họ cũng không tiếc lời khen ngợi dành cho kẻ độc tài ở Sudan là Omar al-Baszir, người đang bị tòa án Quốc tế Hague truy nã về tội ác diệt chủng khoảng 250.000 thường dân.

Trung Quốc đã nói với các chính trị gia châu Phi rằng: Chúng tôi là những người anh em của các bạn, chúng tôi không phải là thực dân giống như những người châu Âu hay người Mỹ. Chúng tôi không nói với các bạn rằng, các bạn cần phải làm gì và quản lý đất nước ra sao, cũng không đề cập đến nhân quyền mà chỉ làm sao để 2 bên cùng có lợi. Những lời đường mật này rót vào tai Bashir, người sau đó đã cho Trung Quốc khai thác các giếng dầu Sudan , nơi sẽ cung cấp một phần mười lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc.

Sau hơn chục năm, các chính sách của Giang Trạch Dân đã đạt được kết quả mong đợi. Trung Quốc trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại châu Phi và là nhà cung cấp viện trợ phát triển lớn thứ 2 sau Mỹ – Giáo sư Scarlett Cornelissen, người đứng đầu Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc tại Đại học Stellenbosch ở Nam Phi, người đã nhiều năm theo sát hoạt động của Trung Hoa trên lục địa này- phát biểu.

Năm 1996, năm mà Giang Trạch Dân tới châu Phi, kim ngạch thương mại giữa châu Phi và Trung Quốc ước tính mới khoảng 5 tỷ USD.

Trong năm 2008, kim ngạch giữa Trung Quốc với châu lục này đã tăng 20 lần, vào khoảng hơn 100 tỷ Mỹ kim. Một phần tư trong tổng kim ngạch này là từ Angola, nơi cung cấp 16% trong tổng lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc – nhiều hơn Iran, một đối tác truyền thống và đồng minh đắc lực của Bắc Kinh. Ngoài ra, dầu hỏa từ 2 quốc gia châu Phi khác là Libia và Nigeria cũng không ngừng chảy vào Trung Quốc.

Các quốc gia như Nam Phi, Equatorial Guinea , Zambia , Zimbabwe và Congo thì trở thành nguồn cung cấp kim loại quý, kim cương và gỗ cho Hoa lục. Người ta tính, cứ 10 cây bị đốn ở Châu Phi thì có 7 cây được chở tới Trung Quốc. Dòng chảy ngược lại từ phía Trung Quốc bao gồm máy móc, điện thoại di động, thuốc, xe hơi và quần áo. Chưa có bao giờ, các sản phẩm như Coca-Cola đến được những vùng sâu, vùng xa nhất của châu Phi. Bây giờ, ở những nơi đó, trong những quầy hàng là những lon Coca- Cola và những chiếc bát nhựa màu đỏ, đèn pin và đồ điện tử… Tất cả đều cực kỳ rẻ và được sản xuất tại Trung Quốc.

“Đối với nhiều người dân châu Phi, đây là lần đầu tiên trong đời, họ có đủ tiền để mua một chiếc radio hay một cái đồng hồ” - ông Dowden nói.

Trái ngọt từ châu Phi

Chiếc cầu Vàng ( Golden Bridge ) được xây dựng ở một nơi nghèo đói và bụi bặm, thuộc Lusaka . Kiến trúc sư Trung Quốc, không phải ngẫu nhiên, đã thiết kế giống như hình dáng của một ngôi chùa với chiếc mái cong cong. Họ muốn rằng, những người Trung Quốc sống ở đây, sẽ cảm nhận được bầu không khí của quê hương.

Nơi đây không thiếu người Trung Quốc: trong khu vực Lusaka , có vài ngàn người Trung Quốc đang sống và liên tục xuất hiện những người mới tới. Đây là vùng có trữ lượng đồng rất lớn thuộc Zambia mà Trung Quốc luôn quan tâm. Thực ra, họ nhòm ngó đến bất kỳ lĩnh vực nào của nền kinh tế, với mục đích đoạt quyền sở hữu các mỏ.

Trong tháng Ba vừa rồi, Trung Quốc đã mở lại các mỏ nickel ở Munali, mà một công ty khai thác mỏ của Úc đã bỏ vì lợi nhuận không đáng kể. Năm ngoái, đầu tư của Trung Quốc tại Zambia đạt 1,2 tỉ đô la (gần bằng một nửa tổng đầu tư nước ngoài vào đất nước này). Người ta tính rằng, cứ bỏ ra 11 triệu để đầu tư thì có thể mang lại 25.000 việc làm mới. Bất chấp những bất ổn của nền kinh tế toàn cầu trong năm qua, đầu tư của Trung Quốc ở châu Phi tăng 40% so với năm 2008 và đó chưa phải là kết quả cuối cùng, họ đang chuẩn bị các dự án tiếp theo, với tổng trị giá là 5,5 tỷ USD.

“Các công ty Trung Quốc hoạt động không chỉ ở những nơi yên ổn như Zambia . Họ xâm nhập cả vào những khu vực mà không người da trắng nào dám ló mặt tới” - Richard Dowden nói. Chẳng hạn, tại mỏ dầu hỏa ở Ogaden, nơi vẫn đang tranh chấp giữa Somalia và Ethiopia . Trong năm 2005, mấy kỹ sư Trung Quốc đã bỏ mạng ở đó. Nếu như các công nhân của hãng dầu khí Shell hay BP bị thiệt mạng thì những công ty này sẽ ngay lập tức quyết định dừng khai thác. Các công ty phương Tây không thể vì lợi nhuận mà bất chấp tính mạng của các kỹ sư của công ty mình. Trong khi đó, những nhà khai thác dầu mỏ Trung Quốc không mảy may xúc động và vài ngày sau đó họ tìm ngay những kỹ sư khác thay thế.

Không còn bất kỳ chỗ nào ở châu Phi mà không có sự hiện diện của người Trung Quốc. Trong 53 quốc gia của châu lục này, Trung Quốc đã có đại diện ngoại giao tại 49 nước, bao gồm 37 đại sứ quán, nhiều hơn cả Hoa Kỳ. Ví dụ như Gabon. Liệu có mấy ai trong chúng ta biết tới đất nước này không? Đó là một nước nhỏ ở châu Phi, nơi có sản phẩm chủ yếu là lạc (đậu phộng). Vậy mà giữa Trung Quốc và Gabon (dân số 1,5 triệu người, diện tích bằng 2/3 của Việt Nam- ND) đã có sự hợp tác khai thác dầu mỏ, mangan và gỗ. Lợi nhuận của Trung Quốc đã được chính chủ tịch Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đảm bảo trong chuyến thăm Gabon năm 2004. Đón ông chủ tịch ngay tại sân bay là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Libreville (thủ đô của Gabon ). Trong cùng năm đó, lãnh đạo độc tài của Gabon , Omar Bongo cũng tới thăm Bắc Kinh. Gabon hiện là nhà cung cấp gỗ lớn nhất của châu Phi cho Trung Quốc và là một đối tác quan trọng về dầu khí.

Mục đích sâu xa

- Ngược lại với Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu, Trung Quốc đã mở một cuộc tấn công trên quy mô lớn trong lĩnh vực ngoại giao với cố gắng mua chuộc Châu Phi – Justin Szczudlik Tatar, một nhà phân tích thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Ba Lan lưu ý như vậy.

Bước phát triển trong mối quan hệ Trung-Phi là năm 2006, năm được Trung Quốc công bố là “Năm châu Phi”. Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo châu Phi được tổ chức tại Bắc Kinh. Trong những ngày đó, trên nhiều đường phố Bắc Kinh, giao thông bị cấm, các nhà máy gây ô nhiễm bị tạm đóng cửa. Thành phố treo đầy áp phích chào mừng các vị vua, vị tướng, tổng thống và thủ tướng của các nước châu Phi.

Mặc dù có những hạn sạn nhỏ, như trên một số áp phích, không phải là hình ảnh những người châu Phi mà là hình những người Papuasi với những mẩu xương đeo trên cánh mũi, Hội nghị thượng đỉnh vẫn là một thành công lớn trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo châu Phi, xếp hàng từng người một, nhích dần trên thảm đỏ để tới bắt tay hai người đàn ông thấp lùn trong bộ comple – Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo – đang đứng trong hành lang tại Đại lễ đường Nhân dân ở Quảng trường Thiên An Môn. Không còn nghi ngờ gì nữa, người ta biết, quốc gia nào mạnh nhất ở Châu Phi.

Đó là miếng bánh ngọt (2) dành cho châu Phi, mà trước đó, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu hay Liên Xô thời còn tồn tại cũng chưa bao giờ nghĩ ra. Tại Bắc Kinh, các thỏa thuận cụ thể được đưa ra, Trung Quốc sẽ gia tăng trợ giúp, đề xuất các khoản tín dụng và xóa nợ.

Tháng mười một năm ngoái, Hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc-Châu Phi lại được tổ chức. Lần này tại Sharm el-Sheikh, trong khu nghỉ mát Ai Cập, quy mô nhỏ hơn, nhưng hứa hẹn nhiều hơn: 10 tỷ USD tín dụng ưu đãi dành cho các chính phủ, cộng với một tỷ cho các khoản vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, 3 tỷ để hỗ trợ các công ty tư nhân Trung Quốc hoạt động tại châu Phi. Trung Quốc cũng hứa hỗ trợ cho những khu vực kém phát triển, miễn giảm thuế, xây dựng từ 3 tới 5 trung tâm hậu cần để đào tạo khoảng 1.500 giáo viên, cấp 5.500 xuất học bổng cho học sinh, tăng số lượng các trung tâm tư vấn nông nghiệp lên 20 và xây dựng 50 trường học Hữu nghị Trung Quốc-Châu Phi.

Sự hào phóng của Trung Quốc khác xa với hoạt động từ thiện, nó bắt nguồn từ một nguyên nhân còn quan trọng hơn chuyện dầu khí hay quặng đồng. Cộng sản Bắc Kinh muốn tranh thủ sự ủng hộ của các nước châu Phi với cuộc chiến của họ trong việc thực hiện chính sách “Một Nước Trung Quốc“, theo đó Đài Loan là một phần lãnh thổ của Trung Quốc.

Trong những năm gần đây, mối quan hệ tế nhị này đã dẫn tới việc mười mấy nước châu Phi cắt đứt quan hệ với Đài Loan… Bắc Kinh đã bỏ ra hàng tỷ đô để đổi lấy các lá phiếu của các nước châu Phi tại Liên Hợp Quốc, ở Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), hoặc – gần đây nhất – tại hội nghị Thượng đỉnh bàn về khí hậu ở Copenhagen.

Mạc Việt Hồng

Dịch từ tuần báo “Polityka” Ba Lan, tháng 3/2010. Bài viết mang tên “Azja kupuje Afrykę: Nowe kolory czarnej Afryki”. Tác giả Jędrzej Winiecki viết từ Lusaka

Thursday, May 13, 2010

THẾ LÀ CHA ĐÃ RA ĐI !

Thế là Đức Tổng Giam Mục Giuse kính yêu - Ngô Quang Kiệt - đã ra đi.
Nhớ, nhớ và cảm phục lắm ! Bài từ biệt sau đây của Ngài đã nói hết với chúng ta.
Có một điều đặc biệt mà chưa mấy ai nói lên đó là: Ngài có một trí nhớ tuyệt vời.






Tuesday, May 11, 2010

BÌNH LUẬN VỀ BÀI DIỄN TỪ CỦA ĐỨC CHA NGUYỄN CHÍ LINH


Sau khi đọc Bài của Đức Cha Nguyễn Chí Linh – Phó Chủ tịch HĐGMVN trong buổi lễ hôm 7/5, tôi có một số bình luận sau đây:

1. Đây là một bài diễn từ ngắn nhưng ý lớn và sâu. Lớn là vì Ngài đã thẳng thắn đụng đến một vấn đề “không thể phủ nhận được”. Dù dân Chúa có nhiều thành phần, mức độ tiếp cận thông tin khác nhau, nhưng những ai quan tâm đều biết rằng sự bổ nhiệm là “có gây ra tranh cãi”. Cá nhân tôi đã từng có cuộc tranh luận nảy lửa về vấn đề này cách đây gần 1 tháng. Hàng ngàn tín hữu vẫn còn có vô vàn câu hỏi trong đầu cần giải thích. Sâu là vì Ngài đã nói về một vấn đề có tính xã hội dưới góc nhìn đức tin. Khi đặt nền tảng trên “mẫu số chung là lòng yêu mến giáo hội” Ngài đã hóa giải được vấn đề khác biệt về cách hành động đồng thời sự ràng buộc về chiều kích tâm linh cho phép tín hữu “hiến tế quan điểm riêng”.

2. Đây là một phát biểu xoáy đúng trọng tâm của vấn đề. Cách đây gần một tháng, cuộc tranh luận của chúng tôi cũng bắt đầu bằng việc “thông tin”. Con người bị tác động bởi thông tin và truyền thông. Chúng ta có rất nhiều ví dụ kinh hoàng trong lịch sử về việc này, giáo hội cũng như xã hội. Một lời nói dối được truyền thông có thể gây ra cả một cuộc chiến, một sự thật được truyền thông có thể đem lại hòa bình. Tự do báo chí cung cấp cho ta nhiều luồng thông tin nhưng đòi buộc chúng ta “học bài học biện phân cách bình tĩnh”. Điều này xã hội và giáo hội Việt Nam đang rất thiếu và Đức Cha đã coi sự kiện vừa rồi như một cơ hội cho tất cả những ai muốn có một cái nhìn rộng hơn, sâu hơn để ra quyết định đúng hơn.

3. Đây là một bài diễn từ có ý nghĩa lớn cho xã hội. Bài này gây bất ngờ với nhiều người, kể cả những người cấp tiến và bảo thủ, cả trong và ngoài giáo hội. Nó gợi mở những suy tư lớn lao hơn cho các vấn đề thời cuộc. Ngài đề cập đến “tất cả những ai có thiện chí với quê hương đất nước” cả “trong nước và hải ngoại” đều có thể góp sức. Dù rất kín đáo, ta thấy bài diễn từ đề cập đến những giá trị tốt đẹp của việc “tôn trọng ý kiến khác biệt”. Nó ghi nhận sự phát triển, tố giác sự độc đoán và âm thầm ủng hộ đa nguyên. Không phải suy nghĩ sâu ta cũng thấy một ý của Ngài là dù quốc gia hay cộng sản, cực đoan hay dân chủ, nếu biết đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, tất cả chúng ta có thể làm cho đất nước Việt Nam mạnh lên như mong muốn của Đức Tổng Giuse phát biểu ngày nào.

4. Dưới góc độ cá nhân, bài phát biểu này đã đem lại cho tôi Bình an và Hy vọng. Là một tín hữu đang sinh hoạt tại giáo xứ Thái Hà, tôi đã được can dự vào nhiều công việc của giáo hội và có nhiều thông tin. Thời gian gần đây tôi cảm thấy giảm sút bình an và hy vọng. Bài Phát biểu của Đức Cha đã “vượt ngưỡng” nên như một điểm sáng cao hơn thu hút được các góc nhìn khác nhau hướng về cùng một điểm. Nó làm nhẹ những náo loạn, dịu những bức xúc, tưới nước yêu thương và gây mầm lộc mới. Tôi hy vọng vì thấy điều một người bạn ngoại đạo nói cách đây 2 tuần là đúng: “Cậu yên tâm, các Ông Cha giỏi thế thì tự họ sẽ nghĩ ra cách giải quyết thôi”.

Xin chân thành cám ơn Đức Cha

BẮT TAY HY SINH MỘT THÁNH NHÂN


Một trở ngại lớn trong mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Vatican dường như đã được gỡ bỏ với sự từ chức của một lãnh đạo hàng đầu Thiên Chúa giáo Việt Nam đồng thời là một người chỉ trích chính phủ.


Giuse Ngô Quang Kiệt là Tổng Giám mục (TGM) giáo phận Hà Nội trong 5 năm qua, coi sóc các giáo xứ thuộc giáo phận Hà Nội và các giáo xứ chiếm một phần ba miền Bắc. Giám mục (GM) Kiệt ủng hộ các cuộc thắp nến cầu nguyện kêu gọi trả lại các tài sản của giáo hội đã bị chính phủ tịch thu, đồng thời đòi hỏi tự do tôn giáo.

Chính quyền Việt Nam, vốn thường xuyên bị cáo buộc vi phạm quyền tự do tôn giáo, hy vọng có thể dập tắt tiếng nói của nhà chỉ trích về nhân quyền, đặc biệt tại Hoa Kỳ, bằng cách thiết lập đầy đủ quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh. Việt Nam, với khoảng 6 triệu giáo dân Thiên Chúa giáo, là quốc gia có dân số Thiên Chúa giáo lớn thứ nhì ở Đông Nam Á, chỉ sau Phi Luật Tân.

GM Pierre Nguyễn Văn Nhơn, 72 tuổi kế vị GM Ngô Quang Kiệt, 57 tuổi, được Vatican bổ nhiệm để trở thành đồng TGM giáo phận Hà Nội vào ngày 22 tháng Tư. Theo các quan sát viên giáo hội, việc bổ nhiệm này là một điều bất thường, bởi lẽ đồng TGM thông thường được chuẩn bị để sau cùng nắm giữ chức vị TGM. Không chỉ GM Nhơn lớn hơn GM Kiệt 15 tuổi, GM Nhơn sẽ chính thức trở thành TGM bất kỳ lúc nào.

Gậy mục tử: Cây gậy của người chăn cừu từ ngàn xưa đóng ba vai trò chính: chỗ dựa, dụng cụ, và vũ khí. Gậy còn đó, mục tử đi đâu, về đâu?

Quan hệ giữa Việt Nam cộng sản và Tòa thánh luôn có vấn đề. Hai vấn đề dai dẳng đó là việc giải quyết các tài sản của giáo hội – bắt đầu từ năm 1954 tại miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam – và việc bổ nhiệm hàng giáo phẩm.

Không giống như Trung Quốc, quốc gia đã cắt đứt quan hệ với Vatican và thiết lập giáo hội quốc doanh, Hà Nội cho phép một giáo hội Thiên Chúa giáo tồn tại dưới sự kiểm soát của Vatican. Trên thực tế, các giới chức Việt Nam giới hạn việc phong chức sắc hàng giáo phẩm và thông qua tất cả các bổ nhiệm của Vatican. Điều này dẫn đến hàng lãnh đạo của Thiên Chúa giáo Việt Nam dễ sai bảo.

Không có điều gì trong lý lịch GM Kiệt cho thấy ngài là một nhà bất đồng chính kiến. Tuy nhiên sau khi trở thành TGM Hà Nội, ngài đã khơi dậy hàng loạt cuộc thắp nến cầu nguyện với các tín hữu trung thành. Cuối năm 2007, giáo dân Thiên Chúa giáo bắt đầu tụ hợp với hàng ngàn người tại nơi trước đây là Tòa Khâm sứ của Vatican tại Hà Nội, vốn bị tịch thu vào những năm của thập kỷ 50.

Sau hàng loạt cuộc thắp nến cầu nguyện chưa từng có nhằm yêu cầu việc hoàn trả Tòa Khâm sứ, các giới chức thành phố dường như chấp thuận các yêu cầu với điều kiện là các cuộc cầu nguyện chấm dứt. Nhưng sau đó chính quyền Hà Nội thay đổi ý định này và thay vì trao trả tài sản của giáo hội, họ cho ủi sập và xây thành công viên.

Vào năm 2008, các cuộc cầu nguyện lan rộng đến giáo xứ Thái Hà tại Hà Nội, cũng về các tài sản bị tịch thu của giáo hội. Chính quyền Hà Nội đã giải tán các cuộc cầu nguyện ôn hòa và sau đó kết án 8 giáo dân Thái Hà với tội gây rối trật tự công cộng và phá hoại tài sản. Có các tin đồn rằng GM Kiệt có thể bị bắt giữ.

Báo “lề phải” đã đồng loạt công kích GM Ngô Quang Kiệt, gọi ngài là người không yêu nước và là kẻ xúi giục tạo nên các xáo trộn xã hội, và liên tục kêu gọi bãi nhiệm ngài. Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội khiển trách ngài bằng văn thư và nhiều lần chỉ trích trên phương tiện truyền thông và với các phái đoàn ngoại quốc.

Tại một cuộc họp với các nhà ngoại giao, một quan chức Hà Nội nhấn mạnh rằng, “Một số linh mục, được GM Giuse Ngô Quang Kiệt chỉ đạo, đã lợi dụng niềm tin của giáo dân và sự thiếu hiểu biết luật pháp của họ, cố ý vi phạm pháp luật và hành động trái với quyền lợi của đất nước và giáo hội".

Trong năm qua, cầu nguyện lan rộng ra các giáo xứ khác. Tại địa phận Vinh thuộc miền Bắc Trung phần, nơi có đông giáo dân Thiên Chúa giáo, nửa triệu giáo dân, theo tường trình, đã phản đối việc công an cảnh sát hành hung các giáo dân vào tháng 7 năm 2009.

Trước tình hình này, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết viếng thăm Giáo hoàng Benedict vào tháng 12 năm 2009, sau chuyến thăm lịch sử đến Vatican của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào năm 2007. Hai phía được báo chí đưa tin là đang thảo luận cho việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Sau cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Minh Triết và Giáo hoàng, GM Kiệt đi Roma với lý do chữa bệnh. Các trang mạng thuộc Thiên Chúa giáo Việt Nam tường thuật rằng Triết đòi hỏi Vatican loại bỏ GM Kiệt như là một điều kiện cho việc thiết lập mối quan hệ tốt hơn. Đòi hỏi này, nếu đúng sự thật, phù hợp với giọng điệu của các tờ báo quốc doanh.

Ngay sau khi trở về Việt Nam vào tháng Tư vừa qua, GM Kiệt thông báo rằng ngài nghỉ hưu vì “lý do sức khỏe.” Việc thoái chức của ngài, dù không bất ngờ, là một thất vọng đối với nhiều người Việt Nam – Thiên Chúa giáo hoặc không Thiên Chúa giáo, vốn cảm phục sự lãnh đạo can đảm của ngài. Có một vài thỉnh cầu trên mạng đã được thiết lập nhằm kêu gọi Giáo hoàng Benedict giữ GM Kiệt trong chức vị TGM Hà Nội.

Cộng đồng Thiên chúa giáo Việt Nam tại hải ngoại là một nguồn đóng góp tài chính quan trọng cho giáo hội tại Việt Nam. Họ cũng là trong số những nhóm có tiếng nói mạnh mẽ vận động chính phủ và quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” vì các vi phạm các quyền tự do tôn giáo.

Tại Việt Nam, các blogger tuyên dương “Tinh thần Ngô Quang Kiệt”, đồng thời so sánh ngài với các thánh tử đạo tiên phong của giáo hội Việt Nam. Lê Quốc Quân, một luật sư nhân quyền, viết rằng không thể có một giáo hội hiệp nhất nếu không có tiếng nói của các tín hữu trung thành. Ông Quân nhận định rằng người Thiên Chúa giáo tại Việt Nam đã biểu lộ sức mạnh của họ và đang thay đổi giáo hội từ hạ tầng đi lên.

Nếu Giáo hoàng Benedict có cuộc viếng thăm trọng đại đến Việt Nam, như Giáo hoàng John Paul đã từng đến Cuba, ngài sẽ gặp gỡ những tín đồ trung thành được Ngô Quang Kiệt – một lãnh đạo tôn giáo theo khuôn mẫu của John Paul II– truyền cảm hứng.

(*) Tựa bài do dcctvn.net đặt

Bản dịch của Nguyễn Hùng Kiệt

Nguồn: http://chuacuuthe.com

Bài tiếng Anh: http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/LE07Ae02.html