Monday, November 10, 2008

AMERICAN DREAM - VIETNAMESE DREAM



GIẤC MƠ MỸ - GIẤC MƠ VIỆT NAM

 

Luật sư. Lê Quốc Quân

 

Barack Obama đã thắng cử và trở thành tổng thống thứ 44 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Đối thủ của Ông – Thượng Nghĩ sỹ John Mc. Cain - đã gọi điện chúc mừng, bày tỏ sự khâm phục, cam kết hợp tác và trân trọng ghi nhận Obama là “tổng thống của tôi”.

 

Các kịch bản phức tạp của kết quả bầu cử dự phòng trong hiến pháp đã không phải đem ra áp dụng bởi vì đó là một chiến thắng cách biệt– Landslide Victory với tỷ lệ phiếu đại cử tri 333/155 dù cho phiếu phổ thông chỉ cách nhau ở mức 52% và 48%.

 

Obama thắng cử làm cho tôi và một người bạn buồn. Tôi mong John Mc. Cain thắng vì một tình cảm cá nhân đặc biệt còn bạn tôi cay cú vì không kịp nói câu: “Chúng tao đã từng bỏ tù một tổng thống Mỹ”.

 

Nhưng cả hai chúng tôi đều khâm phục cho nền dân chủ Mỹ. Qủa thật, người Mỹ thường là không bầu nhầm tổng thống. Đã có lúc đứng trước hai thiệt hại, bao giờ họ cũng biết chọn cái ít thiệt hại hơn.

 

Câu chuyện về giấc mơ Mỹ - American Dream

 

Lịch sử ngắn ngủi của Hoa Kỳ chứng tỏ sự khôn ngoan một cách già dặn của người Mỹ. Trong suốt 232 năm qua kể từ ngày lập quốc vào năm 1776,  “Giấc mơ Mỹ” vẫn sống mạnh mẽ, nó chứng minh khả năng thay đổi, điều chỉnh để tiếp tục đi lên.

 

Hoa Kỳ là một quốc gia đặc biệt khi cho phép sự phát triển bình đẳng trong đa dạng. Mỗi người đều rất tự do, có thể theo đuổi ước mơ riêng nhưng vẫn đến với nhau trên một nền tảng pháp luật chung.

 

Họ đã đến với nhau vì sự khát khao tự do, vì sự thịnh vượng vật chất và những giá trị bình đẳng và Dân chủ. Hàng trăm ngàn người reo hò theo tỷ lệ phiếu bầu được kiểm cho ta thấy không khí thực sự của một ngày hội. Sự sôi động cuồng nhiệt thể hiện ý nghĩa lớn lao của từng lá phiếu.

 

“Giấc mơ Mỹ” vẫn tiếp tục thôi thúc nhiều người. Hàng ngàn dân Mexico vẫn hằng ngày mong thoát qua được đường biên giới để vào đất Mỹ. Hàng trăm ngàn người Việt đã bỏ mạng để kiếm tìm một chỗ trú bên kia bờ đại dương, Những người đã định cư tiếp tục đưa con cháu, họ hàng sang Mỹ.

 

Nhiều nhà khoa học, dù nhớ về cố quốc, nhưng vẫn mong được kéo dài hơn thời gian ở một văn phòng chuyên môn hoặc một giảng đường ở Mỹ.

 

Không ít người vẫn trách tôi dại dột rời bỏ những cơ hội ở Mỹ để về Việt Nam đối mặt với song sắt nhà tù.

 

Ý nghĩa đối với thế giới

 

Sự lên tiếng mạnh mẽ của dân Mỹ thông qua cuộc bầu cử là câu trả lời xác đáng vào những hoài nghi của thế giới. Đầu tiên là nó chứng minh nhận xét của Phiden Castro là sai vì ông cho rằng người Mỹ không bao giờ bầu cử cho một tổng thống da đen.  Nó đập tan những nghi ngờ về những tuyên truyền về sự kỳ thị chủng tộc có hệ thống mà một số quốc gia cố tình gieo rắc cho đất nước Mỹ nơi chỉ có đến 12% ngừoi da đen.

 

Nó cũng phủ quyết hoàn toàn luận điểm về một quốc gia nơi chỉ có những người giàu có mới được tham gia chính trường. Obama nghèo hơn so với đối thủ của mình nhưng nhờ tài giỏi hơn ông có khả năng huy động được nhiều tiền hơn, tranh cử đẹp hơn và đã trúng cử.

 

Với kết quả bầu cử, thế giới phải thừa nhận rằng người Mỹ thực sự dân chủ và văn minh trong tranh cử. Người Mỹ đã giữ được giấc mơ Mỹ sống là vì trong những lúc đất nước họ bị lâm nguy, hình ảnh của họ bị hoen ố, họ luôn biết cách thay đổi và thích nghi, họ luôn tìm ra sự lý do để giữ cho các cơ hội liên tục nảy nở và phát triển.

 

Đã đến lúc những quốc gia liên tục kêu gọi đấu tranh cho một thế giới đa cực nhưng lại không chấp nhận đa nguyên trong nước mình phải xem lại chính mình.

 

Câu chuyện của chúng ta !

 

Nếu như Barack Obama sinh ra ở Việt Nam, liệu ông ấy có được bầu làm chủ tịch nước hay không ? Câu trả lời chắc chắn là không vì ông ấy không được quy hoạch.

 

Trước hết ông ấy không phải là “cháu ngoan Bác Hồ”, không phải là “đội viên ưu tú”,  đoàn viên đoàn thanh niên Cộng sản HCM. vào đảng dự bị, được chính thức, được quy hoạch và qua bao nhiều nấc bậc nhiêu khê khác trong đảng chứ không phải thông qua lá phiếu của Nhân dân.

 

Hơn nữa ông đã từng liên hệ với “các nhân vật thuộc phong trào phản chiến” tương tự như các Nhà bất đồng chính kiến bây giờ”. Nhưng trên hết, ông đã trúng cử vì ông kêu gọi sự đổi thay, một điều mà ông có thể bị bắt bỏ tù tại đất nước đã từng gọi là “dân chủ gấp triệu lần tư bản”  

 

Thế nhưng Ông đã đắc cử vì đất nước Mỹ thực sự cho con người ta cơ hội để khẳng định bản thân. Nhiều người Mỹ gốc Việt đã được trải nghiệm điều này khi họ đã trở thành nghị viên hoặc triệu phú khi chỉ hơn 20 năm trước tả tơi trong bộ quần áo duy nhất, dặt dẹo bước lên bờ cát sau những cuộc vượt biên hãi hùng.

 

Việt Nam ta đã từng có lịch sử rất đáng tự hào và người Việt cũng xứng đáng cơ những cơ hội phát triển như người Mỹ.  Khi đất nước bị lâm nguy chúng ta đã cùng đứng lên để bảo vệ. Hồ Chí Minh đã từng “suy rộng ra” khái niệm “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” của Tuyên ngôn độc lập Mỹ để khẳng định sự tự do và bình đẳng của các quốc gia.

 

Ngày nay liệu chúng ta đã được bình đẳng với các dân tộc khác hay chưa ?. Đó là câu hỏi mà khi “cầm hộ chiếu Việt Nam những nhà lãnh đạo nên nhạy cảm quan sát. Nếu như không thấy nhục vì nước mình thua bạn kém bè thì phải biết nhục khi hàng chục cô gái trẻ Việt Nam xếp hàng cho thanh niên Đài Loan lựa chọn như những món hàng; phải biết nhục khi hàng ngàn dân Việt cứ thấy bóng công an Hàn Quốc là cắm đầu cắm cổ chạy; phải biết nhục khi những cụ già liệt sỹ hiện đang vẫn: “gọi con đội mồ lên đi kiện” ngay trước các cơ quan công quyền.

 

Những việc phải làm !

 

Thế giới đang đối mặt với những khó khăn vô vàn phức tạp. Nước Mỹ đã cố gắng để thay đổi chính mình, khôi phục hình ảnh và chung tay giải quyết nó thông qua “Lời hứa của nước Mỹ”. Đó là lời hứa mà ông phải thực hiện nếu muốn tiếp tục duy trì ở một nhiệm kỳ tiếp theo.

 

Để học tập từ câu chuyện bầu cử, những người thân cộng và chống cộng ở Việt Nam phải hiểu rằng chúng ta có thể bất đồng ý kiến nhưng không tấn công nhân cách và lòng yêu nước của nhau và dĩ nhiên là không bỏ tù nhau.

 

Vì rằng lòng yêu nước không do đảng phái và cương vị. Một bà già còng lưng đang lội nước và một ông Bí thư thành ủy trên xa lông sang trọng có thể có sự khác nhau ghê gớm ở tính chất phản động nhưng lòng yêu nước có lẽ cũng bằng nhau.

 

Tôi tin rằng chỉ có sự đoàn kết trong sự đa dạng ý kiến bởi vì bản chất của tự trong thâm tâm con người là đa nguyên. Và dù có nhiều dị biệt nhưng chúng ta cùng có những điều to tát hơn để chung lo.

 

Đó là đói nghèo. Đất nước ta không có ai chết đói nhưng hàng ngàn người đang đói đến chết.

 

Đó là bệnh tật. Dân số nước ta rất trẻ nhưng thuộc diện nhỏ con và suy dinh dưỡng cao. Trong một buổi tối, tôi đã lặng nhìn hàng chục chếc xe cứu thương đã quay đầu ra khỏi cổng viện Bạch Mai vì dân không có tiền viện phí;

 

Đó là lãnh thổ, lãnh hải bị xâm chiếm. Là thác bản Dốc đang kêu lên tiếng vọng cố hương, là Trường sa và Hoàng sa giãy dụa trong đơn vị hành chính Tam Sa,

 

Đó là tham nhũng đang hoành hành khi những tiếng nói chống lại bị đem đi xét xử và những người treo biểu ngữ bị bắt bỏ tù.

 

Trên hết là mỗi một chúng ta thấy đang bức nhíp, thấy không thật với chính mình, không đủ trí tuệ và đạo đức để nói lên sự thật, nói lên niềm khát khao dù cho khi đang họp chi bộ hay đứng trên bục giảng bài.

 

Người Mỹ đã không kỳ thị về sắc tộc và đảng phái vì nhiều người đảng cộng hòa đã bầu cho dân chủ và ngược lại thì không có một cớ gì mà chỉ những người là thành viên Đảng cộng sản mới được quyền làm Chủ tịch Xã.

 

Những người lãnh đạo ở Việt Nam không được lẩn trốn lịch sử mà phải làm nên lịch sử. Nếu tiếp tục lẩn trốn, nhân dân sẽ đứng lên làm lịch sử, đưa đất nước bước về phía trước.

 

Điều đầu tiên phải làm là  quyền ra báo tư nhân như thời kỳ pháp thuộc; Được quyền thành lập đảng tự do như đất nước Cămpuchia đã hưởng hàng chục năm qua;  Được quyền treo biểu ngữ chống tham nhũng chống việc mất đất mất đảo mà không phải bị bỏ tù…Đó là những thay đổi chúng ta cần phải làm ngay.

 

Tinh thần Việt và chiếc ghế cá nhân !

 

Tinh thần việt đã được khẳng định trong quá khứ và trong những sự kiện gần đây, vậy thì bây giờ hãy tiếp tục đẩy chúng ta về phía trước; kéo chúng ta lại với nhau dù còn nhiều khác biệt; tinh thần việt sẽ chỉ cho chúng ta thấy hình ảnh đất nước của chúng ta tươi đẹp.


Đời sống chúng ta so với lịch sử tổ quốc là cực kỳ ngắn ngủi. Để đất nước Việt Nam này trường tồn mãi mãi thì xin đừng đổ lỗi cho thiên tai, giặc giã. Hãy cầu nguyện, hãy đấm ngực hằng đêm và thầm thì với chính mình: “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”.

 

Xin đừng lên mặt đạo đức giả vì những lời hứa đang trở nên rỗng tuếch khi chiếc túi cá nhân cứ nặng dần. Làm việc nước phải quên việc nhà và tinh thần Việt không có chỗ cho những tư túi cá nhân.

 

Nếu như ai đó đang cầm quyền tại đất nước chúng ta tự hào về những thành tích trong chiến tranh thì hôm nay đất nước lại tiếp tục đòi hỏi quý vị một sự dũng cảm trong việc chấp nhận các ý kiến khác biệt; chấp nhận sự rút lui như là một nghĩa cử bày tỏ lòng yêu nước và hãy dành cho thế hệ trẻ một cơ hội để được thăng tiến như nhau.

 

Nước Mỹ đã sang trang, Việt Nam ta không thể còn đọc hoài trang sách cũ. Người Việt chúng ta, mà bắt đầu phải bằng các nhà Lãnh đạo, hãy lần giở từng trang một cuốn sách phải đọc. Đó là cuốn “Từ độc tài đến Dân Chủ” của Gene Sharp.

 

Vì đã đến lúc chính các “đồng chí” cũng cần được giải phóng khỏi ý thức hệ đã là vòng kim cô ràng buộc chính mình thì mới có một cách tiếp cận mới hơn, tốt đẹp hơn cho dân tộc Việt Nam yêu quý này.

 

 

 

Wednesday, October 15, 2008

CƠ HỘI CHO TƯƠNG LAI

 

Luật sư. Lê Quốc Quân

 Phiên tòa xét xử các Nhà báo và Công an đã khép lại với những bản án nhẹ nhàng nhưng mở ra nhiều cơ hội đòi hỏi cho tự do báo chí và dân chủ nhân quyền ở Việt Nam.

 Lần đầu tiên 4 bị cáo là đảng viên Đảng cộng sản nằm ở trong 2 cơ quan có quyền lực nhất là Bộ Công An và Bộ Thông tin và Truyền Thông bị đưa ra tòa trong một vụ án với những cáo buộc quện chặt lấy nhau. Đã từng sát cánh trong cuộc chiến chống tham nhũng giờ họ là bị cáo đứng cùng nhau sau vành móng ngựa.

 Việc đưa 4 bị cáo này ra tòa đặt những dấu hỏi to tướng về mối quan hệ giữa chống tham nhũng, tự do báo chí và thực thi quyền tự do dân chủ.  Rõ ràng trong bất cứ xã hội nào, muốn chống được tham nhũng phải đề cao việc minh bạch hóa và phương tiện tối ưu chính là tự do báo chí.

 Ở một tầm vóc lớn hơn, việc xét xử họ kích thích sự nghi ngờ của một khối dân chúng rộng lớn đang hoang mang vì mục kích những hành vi tham nhũng hằng ngày quanh mình trong khi các tờ báo đang càng ngày trở thành “lá cải sạch” khi chỉ nói nhiều về hiếp dâm, cướp của, hoa hậu và sàn nhảy “vương vãi bao cao su”...

 Điều đó cho ta hy vọng vì quá trình dân chủ hóa đất nước đang tiến thêm một bước khi nó có thể thực hiện từ ngay chính trong lòng hệ thống. Dù bị bịt mệng trong một thời gian dài và việc đưa tin của các báo là rón rén nhưng trong sâu xa, nó thể hiện tính chính đáng của các “đồng chí” nhà báo.

 Đây cũng là điều đáng vui mừng, đặc biệt là Nhà báo Nguyễn Việt Chiến, vì tin mình đã làm đúng. Họ đã đứng về phía nhân dân trong  một môi trường bị bưng bít thô bạo.

 Họ đã “rót” một phần sự thật và đang sinh sôi nảy nở một cách chân thành trong khối bình dân. Lương tâm của khối dân chúng này sẽ càng ngày càng bất trị trong niềm khao khát sự thật nhiều hơn, mạnh hơn nữa.

 Nghi ngờ về pháp mặt pháp lý

 Trong khi tác nghiệp có thể các nhà báo chưa đúng hoàn toàn nhưng vấn đề là tính toàn diện và khách quan.

 Khi quan tham bước ra khỏi nhà giam và vụ án bị tách ra là lúc kẻ thù của luật pháp phản công. Ở đây “tinh thần pháp luật” không được ứng dụng mà các “quy phạm pháp luật xơ cứng” được áp đặt.

 Thay vì xem xét một cách toàn cục, với các động cơ và mục đích, vụ án đã được tách khúc về các hành vi để cáo buộc phạm tội. Vụ án tham nhũng chưa xong và còn ngổn ngang những dấu hỏi về sự đúng sai thì sự phản đòn vội vàng đối với những người cầm bút là không chấp nhận được.

 Giống như nhiều vụ án chính trị khác, vụ án này khách thể bị xâm hại là rất khó chứng minh. Trong luật pháp bao giờ cũng phải có hành vi phạm tội, có hậu quả xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó thì mới xác định được có tội.

 Ngược với những cáo buộc về xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, nhân dân không thấy có hậu quả mà ngược lại cám ơn các Nhà báo vì đã cung cấp cho họ nhiều góc nhìn hơn.

 Khi hậu quả (khách thể) là không chứng minh được cùng với động cơ và mục đích (mặt chủ quan) là trong sáng thì các cấu thành tội phạm theo Luật hình sự phải coi như chưa có mà đối tượng điều chỉnh phải là Luật báo chí. Thêm nữa là không có “người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan” nào được triệu tập cho thấy sự mong manh trong cáo buộc về tính chất của hành vi.

 Bài học cho tương lai

 Tuy sự xuất hiện trước tòa không hiên ngang, mãnh liệt như những nhà đấu tranh dân chủ đã từng bị đưa ra tòa bởi vì dù sao họ cũng là những đảng viên, đã từng ăn lương của chế độ này trong suốt cuộc đời hành nghề của mình. Đặc biệt Nguyễn Văn Hải đã thừa nhận đến 80% những cáo buộc của Viện Kiểm sát là đúng.

 Nhưng rõ ràng hiệp sau sẽ là quyết định. Khi chính họ được tự do làm báo tư nhân và có thể  trở thành chủ bút, họ sẽ thiết tha hơn với những điều mình viết và chắc chắn sẽ kiên quyết bảo vệ quan điểm của mình.

 Vụ án thực sự còn là một bài học lớn cho những người làm công tác an ninh, họ là nạn nhân trong một chế độ nơi các quyết định nặng tính độc tài. Các cơ sở để gọi là phạm tội là mờ nhạt, ranh giới giữa cái đúng và cái sai trở nên mong manh.

 Bài học hay nhất có lẽ là 4 bị cáo này đã thực thi triệt để quyền tự do dân chủ, tự do báo chí – một nhân quyền cơ bản mà lẽ ra không bao giờ được có khái niệm “lợi dụng” đi kèm.

 Và với việc kết án các cơ quan tố tụng đã “tặng không” cho phong trào dân chủ 2 nhà báo nổi danh. 4 cựu đảng viên cộng sản đã vô tình trở thành “đồng chí” với những ai đang đấu tranh đòi tự do dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.

 Việc làm của họ là có lợi lâu dài cho dân tộc. Đó là điều mà các nhà báo nên tự hào.

 Bài đã được đăng trên bbc tại: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/10/081015_phientoachuakhep.shtml

Wednesday, September 10, 2008

TAM SA - KHÂM SỨ - THÁI HÀ

THÁI HÀ – KHÂM SỨ - TAM SA

CÔNG LÝ VÀ DƯ LUẬN

 


Những câu chuyện thực

 

1.     Ngày 25/6/2005, Nguyễn Đức Chi bị bắt trong một vụ gọi là “siêu lừa” với hàng loạt cáo buộc nặng nề. Vượt qua tất cả những giới hạn của thời hạn tạm giam theo luật định, chính quyền vẫn chưa thể đem vụ án ra xét xử. Dư luận cồn cào.

 

2.     Ngày 4/4/2006 Chính quyền bắt giam thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến. Một thời gian sau khi ông bước ra khỏi nhà giam, những nhà báo chống tiêu cực mạnh mẽ nhất của 2 tờ báo lớn đã tra tay vào còng. (12/5/2008). Dư luận tiếp tục xôn xao với một cường độ cao chưa từng thấy.

 

3.     Từ đầu năm 2006, hàng loạt nhà đấu tranh cho dân chủ và dân oan bị bắt, xét xử và kết án với những tội danh khác nhau. Công tố vụng về khi đưa ra bằng chứng và không tranh luận sâu sắc về các cấu thành tội phạm tại tòa. Dư luận trong và ngoài nước phản đối dữ dội trong một “cơn lên đồng tập thể”.

 

4.     Ngày 27/8/2008 Nhà nước khởi tố vụ án giáo dân Thái Hà xô đổ tường, bắt giam một số giáo dân. Tiếp theo, Chính quyền dùng giày đinh, dùi cui và hơi cay để giải tán giáo dân khi họ yêu cầu thả người. Trước đó, ngày 26/1/2008 Công an Quận Hoàn Kiếm đã kịp khởi tố vụ án tại Tòa Khâm sứ với cùng một tội danh.

 

5.     Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế ở Thái Hà khẳng định đồng chịu trách nhiệm với tất cả giáo dân trong sự biến. Gần 7 triệu người dân công giáo hiệp thông cho những việc đang xảy ra tại Thái Hà. Hàng ngàn người vẫn tiếp tục đổ về linh địa trong sự thôi thúc của tâm linh và khát khao kiếm tìm công lý. 

 

Những cách tiếp cận sai  

 

Khi bắt 2 nhà báo, công an đã giữ bí mật và không làm công tác tư tưởng trước với Ban biên tập cho nên liên tục 2 ngày sau đó các báo này đã phản công lại vụ bắt giữ bằng những lời lẽ mạnh mẽ. Việc các báo lên tiếng để bênh vực cho các phóng viên của mình là bất ngờ với cả lãnh đạo Bộ truyền thông, Bộ công an và Ban tuyên giáo trung ương. Họ không ngờ rằng chính những đảng viên chủ chốt của những tờ báo đã bắt đầu công khai đòi ‘thay máu’.

 

Thế nhưng không làm công tác tư tưởng trước trong vụ bắt 2 nhà báo là một thất bại thì việc “dọn đường dư luận” ở Thái Hà lại là một thất bại rất lớn khác về tuyên huấn. Việc phát sóng đã gây ra một cú sốc phản vệ, kích thích mãnh liệt mọi người quan tâm tìm hiểu sự thực, đặc biệt là người công giáo. Trang Vietcatholic và Chúa Cứu Thế có thêm hàng triệu lượt truy cập mới, hàng ngàn bản đơn khiếu nại và thư hiệp thông vẫn được phát tại nhà thờ cho bất cứ ai quan tâm.

 

Năm ngoái, một chiến dịch truyền thông ào ạt tấn công vào các nhà dân chủ đã làm cho nhân dân hoang mang tưởng như chính quyền sắp sửa có biến, sự ‘an nguy’ của chế độ như đang bị đe dọa nghiêm trọng. Tất cả đều có một phản ứng ngược. Người ta quan tâm, nghi ngờ và thậm chí hy vọng nhiều hơn.

Không chỉ dừng ở mức độ đó, đài báo gần đây tiếp tục vu cáo một cách hoảng hốt về sự đứng sau của các tổ chức “phản động” hoặc các ‘quốc gia thù địch’. Chính quyền đã cố tình hình sự hóa và chính trị hóa những vấn đề tranh chấp dân sự giản đơn. Điều đó đã làm Mỹ và các nước phương tây phải để tâm vì ai cũng hiểu rằng đài truyền hình Hà Nội ngầm ám chỉ các ‘thế lực thù địch’ là ai.

 

Chính điều đó đã tạo một cơn địa chấn mới trong thời điểm Chính quyền Mỹ đang chuẩn bị báo cáo hàng năm về tình hình Nhân quyền trên thế giới và Dự luật Nhân Quyền - HR3096 cho Việt Nam sẽ được đưa ra bàn thảo tại Thượng Viện Hoa Kỳ trong tháng 9. Quan trọng hơn, nó xảy ra vào thời điểm mà các trang mạng của Trung Quốc liên tục đưa tin về các kế hoạch xâm lược Việt Nam.

 

Rõ ràng cách tiếp cận này là sai và sự suy giảm niềm tin của dân chúng vào Chính quyền là điều có thực. Sự suy giảm sẽ dẫn đến việc co cụm từng bộ phận dân chúng như một phản ứng tự vệ hay giản đơn hơn là nhu cầu chia sẻ. Điều đó đã kích thích các xã hội dân sự tiếp tục hình thành và phát triển. Và vì thế, việc bất mãn ngày càng gia tăng với sự hiện diện của những khối quần chúng đông đảo song song với những băng rôn bí mật bất ngờ là điều không tránh khỏi.   

 

Một nhà nước mạnh là một nhà nước không làm to những điều quá nhỏ.

 

Công lý - Con đường hành trình tố tụng

 

Việc bắt dân oan, nhà báo, giáo dân là việc dễ. Nhưng sau việc bắt là một khung pháp luật đang ngày càng hoàn thiện với những đòi hỏi càng cao trong xu hướng chung về xây dựng một nhà nước pháp quyền.  

 

Khởi tố vụ án là giai đoạn đầu tiên của một tiến trình gồm năm bước gồm : Khởi tố - Điều Tra – Truy tố - Xét xử - Thi hành án. Khởi tố là vạch xuất phát của một đường đua dài trong tiến trình kiếm tìm công lý giữa một bên và luật sư và một bên là công tố mà đích đến là phán quyết công minh của một quan tòa trong một hệ thống tư pháp độc lập.

 

Ở Thái Hà, gần 300 người cùng tham gia đập bỏ một đoạn tường ọp ẹp dài 6m mà họ cho là được xây một cách bất hợp pháp trên mảnh đất bị chiếm dụng trái phép vừa bị Nhà nước tịch thu thì những tranh luận về mặt pháp lý đối với tội « hủy hoại tài sản » càng trở nên phức tạp và lý lẽ luận tội của công tố chắc chắn sẽ trở nên mong manh.

 

Việc giáo dân khiếu nại đất đai suốt 12 năm nay không có trả lời và đã tập trung cầu nguyện ôn hòa thì khó có thể  gọi là ‘gây rối trật tự công cộng’ nếu như Nhà nước không muốn bị mang tiếng đàn áp tôn giáo. Càng không thể có chuyện đó khi kể từ ngày việc đàn áp xảy ra, càng ngày càng đông người hơn tiếp tục đến để cầu nguyện như họ đã từng làm hàng ngàn năm nay.

 

Các cán bộ cảnh sát điều tra cũng đang chịu áp lực rất lớn từ cơ quan ngôn luận. Sự xúi giục và kích động mạnh mẽ của truyền thông có thể vô tình đẩy họ đến những tội phạm tư pháp khác mà chính họ có thể cũng không giữ được mình. Gương Thiếu tướng và Thượng tá cùng ngành với họ vừa bị ‘bắt ngược’ là nhãn tiền.

 

Và rồi cuối cùng, trên con đường kiếm tìm công lý bao điều phức tạp nữa sẽ tiếp tục xảy ra. Khi những giáo dân cùng các linh mục đã dám đến tận đồn công an đòi thả những người bị bắt và hàng ngàn người vẫn tiếp tục kéo đến Thái Hà mỗi ngày để cầu nguyện cho ‘những anh em đang bị giam cầm’ thì không ai có thể lường được là có mấy trăm ngàn người công giáo sẵn sàng đến dự khán một phiên tòa mà chắc chắn sẽ phải xử công khai theo luật.

 

Đó là một thách thức không nhỏ của tất cả các bên trên con đường kiếm tìm công lý.

 

Lòng dân đã khác – Cần một cách tiếp cận mới !

 

Trong vụ biểu tình chống ‘Tam Sa’, sinh viên đã không gây rối. Họ không có một hành động nhỏ nhặt nhất nhằm tấn công sứ quán Trung Quốc ngay trước mắt mình cho dù những cơn thịnh nộ trong lòng trở nên hết sức khó kiềm chế khi mà tiếng gọi của tổ quốc bị xâm lăng vang trong từng tiếng hô ‘đả đảo tam sa’.

 

Trong vụ Thái Hà và Khâm sứ, không một giáo dân, tu sỹ nào ham muốn một chiếc ghế trong phường Quang Trung hay Hàng Trống. Họ không trèo tường hay đập phá một cơ quan công quyền để ‘cướp chính quyền’ mà họ gây áp lực bằng sự hiện hữu để đòi hỏi pháp luật phải được thực thi thông qua hình thức cầu nguyện ôn hòa.

 

Họ không đe dọa chính quyền bởi vậy thực tế thì không có gì đáng phải quan tâm lớn. Việc đổ một bức tường là điều khác xa so với việc “đổ chính quyền” ở một cấp dù là nhỏ nhất. Việc ‘dọn đường dư luận’ bằng truyền thông sai sự thật để gây áp lực tiến hành một việc quy trình tố tụng theo luật xem ra đã rất lạc hậu.

 

Sự hiện hữu một cách có thực những khối dân chúng to lớn trong việc bày tỏ chính kiến của mình sẽ phải trở thành bình thường. Việc đó đặt ra 2 lựa chọn : Hoặc là tiếp tục đổi mới, mở rộng không gian dư luận, không gian chính trị xã hội cho dân chúng sinh hoạt. Hai là tiếp tục đàn áp và bắt bớ. Giống như một cái bu nhốt gà. Đàn gà đang dần dần lớn lên. Cái bu nhốt gà mà Đảng cầm trong tay đã trở nên quá chật chội. Hoặc phải nới rộng ra hoặc duy trì nó với những vi phạm và cọ xát ngày càng tăng.

 

Trong 2 cách tiếp cận đó, cách thứ nhất là khôn ngoan.

 

Việc nghiên cứu người Khách ngày mai (10/9/08) đến thăm Việt Nam, ông John D, Negroponte sẽ cho ta cách tiếp cận tốt khi ông ấy vừa có thể đảm trách Giám đốc cơ quan Tình báo CIA lại có thể là một Thứ trưởng Ngoại giao với những kỹ năng ngoại giao đáng khâm phục. Ứng cử viên John Mc Cain với  ‘cách tiếp cận đa đảng’ trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ sắp tới cũng cho phép Việt Nam ta có cách nhìn nhận đa nguyên và giải quyết mọi việc trong ôn hòa hơn.

 

Xét cho cùng những phản ứng lúng túng vừa rồi chỉ là một phản ứng tâm lý của một Đảng cầm quyền không có cảm giác là mình ‘chính danh’. Bởi vậy, giải pháp chính vấn đề là tìm lại sự chính danh, thông qua những cởi mở về chính trị, xã hội, hòa hợp dân tộc, quên đi quá khứ, vượt qua hiệu ứng tâm lý trấn áp hoặc xù lông tự vệ của một con nhím trước những khối quần chúng rộng rãi là cách thức duy nhất để Việt Nam tiếp tục phát triển trong đoàn kết. Nếu không quà tặng Đảng Cộng sản để lại cho thế hệ sau không phải là một đất nước Việt Nam an bình mà là một thùng thuốc súng.

Thursday, July 10, 2008

DU LỊCH - CHÍNH TRỊ - TÔN GIÁO


Đang làm báo cáo chiến lược phát triển ngành Du lịch.

Lọ mọ tìm thấy một bài báo viết về du lịch đầy những nghịch lý logic.

Từ đó lại ngồi suy nghĩ sâu hơn. Nhớ người bạn là Quan chức cộng sản có một trang trại đẹp, có lần rủ mình về ngồi ở đó nói chuyện chính trị. Giữa tiếng gió ngàn hoang sơ, ông ấy bảo nhớ tiếng ồn của phố, nhớ thuốc lá 3 số và bia lạnh.

Lại miên man suy nghĩ về độc tài và dân chủ. Cái nào là nền của cái nào. Có lần một linh mục đã nói với mình: “Cộng sản là cái roi Thiên Chúa đưa xuống loài người quất vào chúng ta, răn đe chúng ta đi theo đường Thiên Chúa”.

Nhưng dù sao, bài viết sau đây về du lịch, nhờ sự tự do về ngôn luận đã cung cấp cho chúng ta một cách nhìn khác, khá thú vị.

_____________________________________________

Du lịch là ích kỷ!



Du lịch chân chính không phải là những anh bụng phệ hàng tuần kéo nhau ra Tuần Châu ăn hải sản, uống bia và “du lịch”, không phải những cô váy ngắn bốt cao xúm xít quanh đống thổ cẩm “lạ mắt” dưới gầm nhà sàn Bản Lác, không phải một đại đội các bác đội mũ lưỡi chai giống nhau, chen chúc chạy đằng sau một anh cầm cờ trên cầu Thê Húc. Như vậy là nghỉ dưỡng,là dưỡng gìa,hay cực đoan hơn : là đú đởn!


Du lịch chân chính là những người lữ hành không mỏi trên con đường ít dấu chân người qua, là những kẻ lang thang ngày qua ngày trên những dãy núi trùng điệp, những khu rừng già ẩm ướt hay những bản làng hẻo lánh, là những kẻ thích tự làm khổ mình, thích đẩy mình vào tình thế khó khăn nguy hiểm, chẳng để làm gì ngoài việc để thoả mãn cái “tôi thích thế” của họ. Họ thực chất là những kẻ ích kỷ, dù vô tình hay cố ý, theo cách này hay cách khác, họ đúng là những kẻ ích kỷ. Họ chỉ muốn “sướng” cho bản thân họ. Họ mò mẫm đến những bản làng xa xôi, thích thú ngắm nhìn những con người thiểu số sống một cuộc sống của cả thế kỷ trước. Họ vui mừng vì được chứng kiến cái hoang sơ và nghèo khó, nơi người ta ăn những thứ lá cây vốn chỉ dành cho gia súc, uống thứ nước chưa được xử lý do mấy cây tre ẩm mốc mang về, nơi mà mọi đồ đạc trong nhà đều méo mó, đen đúa và cáu bẩn. Tất nhiên họ chẳng phải là nguyên nhân của sự nghèo khó đó, và có thể họ cũng chẳng muốn người ta phải nghèo khổ như thế.

Nhưng, thật trớ trêu, họ lại cảm thấy khó chịu khi thấy cuộc sống của người ta khấm khá hơn. Họ thất vọng khi thấy mấy em Hmông váy áo “dân tộc” thế mà lại ngồi xem Ưng Hoàng Phúc hát trên VCD. Họ cau mày khi thấy trên mấy vách tường gỗ của ngôi nhà sàn được dán đầy những ngôi sao ca nhạc cả Việt Nam và Hàn Quốc. Họ muốn mọi thứ ở đó đều phải mang một vẻ ban sơ, thô mộc, original. Họ muốn mọi thứ ở những ngôi làng đó đều như phải được sinh ra từ đất, không plastic, không điện tử, không song. Nói một cách cực đoan hơn, họ không muốn những ngôi làng hẻo lánh mà họ đã khó nhọc tìm đến lại bị xâm lược bởi những thứ văn minh của cái đám người Kinh dưới kia, dù cho những cái mà họ gọi là “lai tạp vớ vỉn” đó chính là dấu hiệu của một cuộc sống vật chất đang được cải thiện, là những thứ để làm nông đi cái hố ngăn cách ngược xuôi.

Có những khi họ xa cơ lỡ bước trên bước đường lượt phượt, họ đi cầu cứu sự giúp đỡ của những người thiểu số đó. Họ được một gia đình nghèo khó nhưng tốt bụng dành cho một chỗ sạch nhất, ấm nhất trong nhà để ngủ, được ăn cơm với những quả trứng gà quý giá mà ngay cả đứa con suy dinh dưỡng của họ cũng không được ăn, uống những thứ rượu vốn được gia chủ cất sâu trong gậm giường. Những người nghèo khó tốt bụng đó xứng đáng được đền bù về mặt vật chất, họ nghĩ vậy. Thậm chí, theo cách nghĩ thông thường, nên được trả công hậu hĩnh hơn so với mức cần thiết. Họ biết rằng thêm 50.000 với họ không thành vấn đề gì nhưng với cái gia đình nghèo khổ kia thì đó là một món quà lớn mà có thể làm cho bà chủ nhà vui mấy ngày. Lương tâm họ muốn làm việc đó, nhưng họ lại không làm. Họ chỉ trả công cho gia đình ấy một cách rất rất chừng mực, chừng mực ở mức mà tất cả những người đi bụi khác đều chấp nhận được, và gửi kèm một lời cám ơn chân thành và very big. Họ lo ngại rằng một số tiền lớn hơn có thể sẽ làm “hư” cái gia đình ấy, rồi không lâu sau sẽ hư cả cái bản ấy, rồi những người khác đến sau họ sẽ phải chịu cảnh đối xử “dịch vụ”, “mất hết tình người”. Đây quả là một sự ích kỷ đầy tinh thần trách nhiệm, một sự ích kỷ có tổ chức.

Sunday, July 06, 2008

KHỦNG HOẢNG VÀ TIẾN HÓA HÒA BÌNH


KHỦNG HOẢNG VÀ TIẾN HÓA HÒA BÌNH

Luật sư. Lê Quốc Quân.

Thách đố trước mắt đối với thế giới là 2 cuộc khủng hoảng năng lượng và lương thực. May thay đó cũng là 2 thứ mà Việt Nam được Trời phú cho rộng rãi.

Với trữ lượng dầu mỏ dự kiến khoảng 1,2 tỷ m3 và là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 triên thế giới, Việt nam đã có thể an nhiên tự tại, mỉm cười qua những cuộc khủng khoảng đang làm cả thế giới đau đầu.

Hàng loạt mỏ dầu vẫn tiếp tục được đẩy mạnh khai thác và tiềm năng dầu khí tại các bể trầm tích Sông Hồng, Nam Côn Sơn, Vũng Mây và mới đây nhất là Mỏ Tê Giác Đen...với trữ lượng xác minh được ngày càng cao lẽ ra đã cho phép Việt Nam “thờ ơ” với những kỷ lục giá dầu mới liên tục được lập ra.

Hai vùng đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long cùng với dải đồng bằng ven biển đã giúp cho ông Cha ta nhiều đời nay được no ấm đã có thể đem lại nhiều giá trị cho Việt Nam trong cơn khủng hoảng hiện nay.

Nhưng đập vào mắt nơi đô thị là sự ngông nghênh chơi trội, là hoa quả, lương thực, thực phẩm ngoại tràn ngập các sạp hàng và siêu thị với giá đắt đỏ, phía sau là vùng nông thôn rộng lớn với số đông dân nghèo đang đối diện với nguy cơ thiếu đói và một môi trường xã hội với những thiết chế cộng đồng làng xã đang ngày càng rạn vỡ.

Tháng 6 – thời điểm Chính Phủ khống chế tăng giá xăng dầu, sắt thép…- bắt đầu hết. Dự án kinh tế nặng mùi chính trị Dung Quất lại nhùng nhằng bước sang năm chậm thứ 8 so với kế hoạch ban đầu trong khi những thùng dầu thô vẫn cứ tiếp tục nối đuôi nhau chạy khỏi phao số không.

Tiền thuế của dân vẫn tiếp tục đổ vào bù lỗ cho các tổng công ty xăng dầu với niềm tin mong manh về khả năng kìm chế giá lạm phát.

Rừng vẫn tiếp tục bị phá làm ruộng đồng lũ lụt liên miên.

Đất đai cằn khô thiếu dinh dưỡng trong khi hàng loạt nhà máy sản xuất phân bón đều chậm tiến độ xây dựng hoặc tồn tại mang tính biểu tượng. Đặc trưng nhất là nhà máy Phân Đạm Hà Bắc – Một doanh nghiệp chết dở đang ngấu nghiến “nhai” tiền thuế của dân để vênh váo tồn tại vì nó là biểu tượng cho tình hữu nghị Việt- Trung do Trung Quốc xây dựng từ năm 1959.

Ruộng ngoại ô hoang hóa vì quy hoạch treo. Nhiều cánh đồng phì nhiêu đã được hệ thống “cò dự án” kết lại thành “đường dây”. Trong thực tế chính các trưởng thôn tham nhũng lại là những “nhà quy hoạch” đầu tiên, nối tiếp bằng những chữ ký thiếu trách nhiệm và đầy mùi ngân kim của Xã, Huyện và lên Tỉnh, ào ào cướp đất nông dân, biến ruộng lúa thành những khu công nghiệp thô lậu xây dựng vội vàng, vắt kiệt sức khỏe của những trai thanh gái tú Việt Nam tuổi đương thì.

Với một quốc gia trẻ 85 triệu dân đang tuổi lớn khát khao tiêu dùng, tình trạng lạm phát và nhập siêu, trong đó có nhập siêu xăng dầu, liên tục phá vỡ các giới hạn cho phép chắc chắn sẽ đặt Việt Nam trước những nguy cơ của khủng hoảng, buộc chúng ta phải đặt vấn đề về khả năng cung cấp sản phẩm cho dân chúng và suy nghĩ về công cụ quản lý chính sách vĩ mô thông qua phát triển bền vững.

Phát triển bền vững và cơ hội trong khủng hoảng:

Đã đến lúc chúng ta phải hiểu rõ những con cá vẫn có thể lớn nhanh và tươi ngon, những bông lúa vẫn trĩu hạt với chất lượng và giá cao mà không cần phải tiêu tốn nhiều năng lượng, vắt kiệt tài nguyên thiên nhiên và hủy hoạt môi trường.

Người Nhật đã có thể phá bỏ những vùng trồng lúa để xây dựng nhà máy công nghiệp với giá trị tạo ra cao gấp nhiều lần nhưng họ vẫn để lại nhiều cánh đồng lúa mênh mông bởi nông nghiệp đã trở thành nguồn cảm hứng thiên nhiên, của du lịch và văn hóa cộng đồng.

Thực tế lịch sử phát triển cho thấy có nhiều con đường khác nhau để đi đến một giá trị phát triển bền vững. Nông sản có thể tạo ra được những giá trị lớn và người nông dân vẫn “khỏe mạnh tới tận già” bỏ xa những thu nhập “còm” ở một nhà máy công nghiệp nhỏ nơi mà thời giờ nghỉ ngơi, ánh sáng, chỗ ngồi, dinh dưỡng bữa ăn cho công nhân đều thiếu thốn một cách tệ hại.

Nơi mà sau 5 năm những “cối xay thịt” đó đã trả về cho quê hương những chàng thanh niên ốm yếu và phụ nữ trẻ với vô vàn bệnh phụ khoa. Họ bị vắt kiệt sức lao động ở lứa tuổi đang sung sức nhất bằng những thao tác hết sức đơn thuần “phổ thông” trong những nhà máy của những Ông chủ có tầm nhìn ngắn hạn và đầu tư vào Việt Nam chỉ là chụp giật.

Công nghiệp hóa là hết sức quan trọng và cần thiết. Nó đã đưa nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…đến bến bờ phát triển một cách nhanh chóng nhưng nó phải thực sự bắt đầu một cách có bài bản xuất phát từ lợi ích quốc gia chứ không phải manh mún và gượng ép xuất phát từ những lợi ích cá nhân của quan chức hoặc vùng miền.

Qủa thật, khi các tập đoàn lớn và nghiêm túc, có hàm lượng chất xám cao, vì những quan ngại chính trị đối với một quốc gia đang ngập ngừng trong đổi mới, chưa thực sự bước vào đầu tư thì những nhà đầu tư “cò con” đã kịp vào, cấu kết với tư bản đỏ, xé nát quy hoạch và ăn và chơi loạn xị ngậu trên mảnh đất Việt Nam này.

Diễn tiến hòa bình là sự liên tục thay đổi tư duy

Vốn hầu hết xuất thân từ nông dân, nhìn cây lúa, con cá lớn dần lên, lẽ ra các nhà chính trị cần phải hiểu thế nào là tiến hóa và phát triển bền vững để có tư duy khoa học, tận dụng các lợi thế cạnh tranh hầu đem lại một giá trị phát triển lớn hơn cho chính Nhân dân Việt Nam.

Về chính trị, đã đến lúc các nhà lãnh đạo đừng đem học thuyết vĩ đại “này nọ” hoặc những con “ngoáo ộp” ghê gớm đâu đó ra hù dọa dân chúng và những công chức yêu nước cấp tiến trong bộ máy của mình khi những điều tự nhiên như hơi thở là cơm ăn áo mặc, quyền được nói, được nghe, được cầu nguyện vẫn tiếp tục bị hạn chế.

Nhiều vị lãnh đạo đã rất phản động khi gán ghép những vấn đề như dân chủ, nhân quyền là một phần của “âm mưu” diễn tiến hòa bình mà quên rằng sự “tiến hóa hòa bình”[1] là điều tất yếu đang xảy ra liên tục trong chính bộ não chúng ta nếu chúng ta còn là một cơ thể sống.

Cần phải hiểu rằng, tự ngàn xưa và đúng với tất cả các loài, quan trọng nhất của sự tiến hóa là tiến hóa về tư duy. “Phát triển bền vững” chính là bền vững trong tiến hóa tư duy. Ngược lại với điều đó là phản động.

Về kinh tế, cần từ bỏ lý thuyết chạy theo tăng trưởng một cách đơn thuần và niềm đam mê “vai trò chủ đạo” của kinh tế Nhà nước bởi điều đó có thể dẫn rất nhanh đến sự phá sản của toàn bộ nền kinh tế do phải tập trung quá nhiều nguồn lực vào phát triển các tập đoàn tốn kém và bụi bặm.

Mặt khác sự vội vàng để chiếm lĩnh vai trò “định hướng” có thể gây ra nhiều hậu quả tai hại khác đối với môi trường sống của cả nước trong tương lai. Ô nhiễm môi trường và tài nguyên cạn kiệt là cái giá mà sau này con cháu sẽ phải trả có thể rất lớn.

Trước đây nhờ tiến hóa tư duy mà Việt Nam chúng ta từ đói ăn đã thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Trước đây cũng nhờ tiến hóa tư duy mà hợp tác khai thác dầu khí với các quốc gia ngoài Liên Xô nên hôm nay ta có những mỏ dầu khai thác có tỷ trọng lợi nhuận lớn hơn hẳn. Tóm lại, nhờ tiến hóa hòa bình mà Việt Nam ta đã từng vượt qua “tiểu khủng hoảng”

Vậy thì giải pháp tiếp theo của chúng ta hôm nay để đối mặt và vượt qua các cuộc “đại khủng hoảng” không có gì khác ngoài việc tiếp tục tiến hóa hóa bình, tiếp tục đẩy mạnh cải cách, tiếp tục các di sản của những người đi trước, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm đưa đất nước đi lên dù có bị “búa” đập và “liềm” cắt. Muốn làm được vậy, trước tiên các nhà lãnh đạo cần phải tự “tiến hóa hòa bình”.


[1] Tác giả dịch chữ “Peaceful Evolution” là – “Tiến hóa hòa bình” trong khi hầu hết các đài báo Việt Nam đều dịch là “Diễn biến hòa bình”. Có thể xem thêm Darwin Evolution Theory – Học thuyết tiến hóa của Darwin.

Sunday, June 29, 2008

VỀ NHỮNG CÂY CẦU

NHỮNG CHIẾC CẦU

Chương trình thời sự gần đây cho thấy những cây cầu yếu đang tiếp tục khống chế từng đoàn xe quá trọng tải phải dừng lại trên đường. Lẽ ra cầu phải giúp cho sự đi lại được dễ dàng và thúc đẩy sự giao lưu giữa các “eo” bờ nay “cầu” đang trở thành điểm thắt nút bóp nghẹt nhiều doanh nghiệp và làm chậm chân nhiều công trình. Điều đó thể hiện sự bất cập và tầm nhìn ngắn hạn của các nhà lập kế hoạch phát triển giao thông.

Nhưng nghiêm trọng hơn là khi những nhà chính trị - những người lập kế hoạch phát triển xã hội- không tiên liệu được những chiếc “cầu” trong cuộc sống. Trong khi những cây cầu có cấu trúc vật lý không được thêm mới và những cái cũ đang trở nên già nua một cách nhanh chóng do sức nóng và sức ì của nền kinh tế, người dân tiếp tục phải qua rất nhiều “cầu” ở những nơi không phải “cầu”. Để được mua nhà, nhập hộ khẩu, xin giấy phép kinh doanh có điều kiện…người dân đều phải qua “cầu” dưới vô vàn hình thức và do nhiều tổ chức và cá nhân cung cấp.

Trầm trọng hơn là khi nhập viện, nhập trường để hưởng dịch vụ y tế và giáo dục là điều vốn đương nhiên con người phải được hưởng, những quy định thủ tục về “đúng tuyến” đang làm người dân liêu xiêu bước vội chân qua bất cứ chiếc “cầu” nào có được. Đó chính là những chiếc “cầu vượt”. Trong một xã hội mà nhân dân phải qua “cầu” để được tiếp cận với quyền được chữa bệnh và quyền được học hành, ở một thời kỳ mà họ phải trả phí hoàn toàn cho các dịch vụ đó, là điều không thể chấp nhận được. Có những người, do tin vào thủ tục được minh thị hoặc do tiếc tiền, nên đã cố tình “vượt cầu”, đặc biệt khi “cầu” đó là do chính người trong cơ quan hành chính giới thiệu hoặc cung cấp thì coi như “đi đứt”. Khi đó, hàng loạt thủ tục nhiêu khê sẽ được viện dẫn tối đa để dẫn dắt người dân đi vào các ngóc ngách đầy rẫy sự tốn kém và bực tức.

Vì những chiếc “cầu vượt” này mà biết bao nhiêu dự án đã trở thành “Cầu treo”. Trong khi các doanh nghiệp có năng lực vất vả chạy ngược xuôi tìm “đỏ con mắt” mà không ra được thuê đất hoặc tiếp cận tín dụng thì nhiều DN khác vốn không có năng lực tiếp tục nhận được những ưu đãi và những kênh tín dụng riêng để cuối cùng những DN đó lại biến các dự án thành “cầu trượt” “cầu treo” hoặc tự mình thành những “chiếc cầu” để cho những DN tư nhân có điều kiện phải trả thêm chi phí và bước qua.

Những chiếc cầu yếu không đủ trọng tải đang thực sự làm tắc ngẽn giao thông, ứ đọng hàng hóa và gây nhiều khó khăn cho các DN. Nhưng khó khăn nhiều hơn cho nhân dân chính là các “cây cầu” quan hệ và luồn lách tràn lan hàng ngày. Để khắc phục tình trạng đó không có gì khác ngoài việc thay đổi tư duy của công chức, ý thức rõ về một hành chính phục vụ, giảm bớt sự vô cảm, minh bạch hóa chính sách và trên hết là tôn trọng con người.

Giống như mạch máu trong cơ thể đang chảy, những chiếc cầu yếu đã trở thành một “cục máu đông” tạo nên khó khăn cho nền kinh tế và là nguy cơ gây bệnh chết người cho cơ thể sống. Tất cả đó đều là những việc lớn mà nếu không có sự “xét nghiệm” một cách nghiêm túc, bệnh sẽ phát tác và “trận sẽ vỡ”.

Wednesday, June 18, 2008

DI SẢN PHẢI VƯỢT QUA

DI SẢN PHẢI VƯỢT QUA

Luật sư: Lê Quốc Quân

Ông Võ Văn Kiệt qua đời để lại một di sản nặng nề cho những người lãnh đạo ở lại.

Di sản lớn nhất chính là vấn đề phản biện xã hội và hòa giải dân tộc, điều ông chỉ dám nêu ra sau khi đã về hưu nhưng cũng đủ làm xúc động và hy vọng cho hàng triệu người. Chính những đồng chí đi sau ông hoặc sẽ phải vượt qua những cải cách ông có được hoặc sẽ thấy nợ với dân tộc về những điều ông vẫn thiết tha yêu cầu vào những ngày cuối đời.

Vào năm 1990, khi chưa đầy 20 tuổi. Tôi đã nghĩ ông Võ Văn Kiệt là con người cơ hội. Khi đó, Ông đã chọn theo cánh thiên tả của một thế trận 5-3-5[1] trong lúc vận mệnh của quốc gia đang cực kỳ mong manh vì có thể xoay theo Liên Xô hoặc theo Trung Quốc.

Cục diện đất nước đã có thể rất khác xa bây giờ nếu như ông Kiệt ủng hộ quan điểm của Uỷ Viên Bộ Chính Trị, Bí thư trung ương đảng lúc đó là Trần Xuân Bách.

Nhưng Không, Ông đã thế chân vào vị trí thủ tướng của người mà sau Đại hội đảng đã được bầu làm Tổng Bí Thư. Ông đã song hành cùng Tổng Bí Thư Đỗ Mười và Chủ tịch nước suốt 2 nhiệm kỳ trước khi cùng nhau trở thành cố vấn cho ban lãnh đạo mới. Nhân dân, qua thông tấn xã vỉa hè, đồn đoán về một bộ ba: Mười - Anh - Kiệt với vô vàn điều thắc mắc cần cần hóa giải.

Tất nhiên, vào thời điểm đó tôi cho rằng Ông Kiệt đã có tác động làm giảm sự phát triển của dân tộc về dài hạn khi không dám cổ súy vấn đề đa nguyên đa đảng trong khi mà một người phụ trách chính về lý luận của Đảng đã mạnh dạn khởi xướng và quảng bá. Tất nhiên, nếu ông làm điều đó, biết đâu, Ông cũng có thể có một kết cục khác khốc liệt hơn 100 ngày ngồi tù của tôi.

Nhưng rồi ông lên làm thủ tướng.

Suốt 2 nhiệm kỳ làm thủ tướng Ông đã đưa ra những quan điểm đổi mới mạnh mẽ. Ông đã thổi luồng gió mới, canh tân một phần bộ mặt đất nước với bè bạn Năm Châu. Nhiều nhà tư bản phương Tây coi Ông Kiệt là một kiến trúc sư và là lãnh đạo của phong trào đổi mới ở Việt Nam. Ông khởi đầu cho ít nhất 4 nhiệm kỳ người Miền Nam liên tiếp nắm giữ vị trí Thủ Tướng và tiếp tục còn ảnh hưởng nhằm mở rộng quyền lực chính trị ngay trong lòng Hà Nội.

Để đạt được điều đó ông đã biết dựa vào sức dân. Không có con đường nào khác ngoài việc ông nâng cao tinh thần dân tộc, mở cửa ra thế giới bên ngoài, thúc đẩy lòng tự hào và tình đoàn kết anh em trong ngoài. Thời kỳ ông làm Thủ tướng này cũng chính là giai đoạn đầy khó khăn, xen lẫn giữa mở và khép, giữa cải cách dân chủ và duy trì quyền lực của những nhóm bảo thủ trong Đảng Cộng sản. Trong khi Ông là người mong muốn đối thoại sòng phẳng với những nhà bất đồng chính kiến thì chính Ông cũng đã đặt bút ký Nghị định 31/CP cho phép giam giữ người bất đồng chính kiến đến 2 năm mà không cần xét xử.

Càng hiểu nhiều hơn về cơ chế tổ chức quyền lực Nhà nước Xã hội Chủ Nghĩa tôi càng dễ thông cảm và tôn trọng ông hơn. Vì ông có cái khó riêng của của những người trong cuộc.

Rồi ông về hưu.

Từ giã chính trường ông vẫn đau đáu với những vấn đề quốc kế dân sinh.

Mặc dù tuổi cao, những thao thức của Ông cho đất nước đáng để cho những người đồng trang lứa phải thấy hổ thẹn. Ông muốn tăng tốc cải cách, ủng hộ báo chí, bảo vệ dân nghèo, xem xét lại các vấn đề lớn của quốc gia…. Ông thấy rõ dù đất nước đã nối liền một dải, nhưng lòng người còn ly tán, việc hòa hợp dân tộc vẫn còn đầy cam co.

Lòng kính trọng của tôi đối với Ông chỉ có thực sự từ khi tôi nghe một phỏng vấn của Ông trên BBC và hàng loạt bài ông viết về Hòa hợp và Hòa giải dân tộc đăng trên báo Tuổi trẻ.

Nhiều điều ông nói là cho chính gia đình ông nhưng tôi thấy dáng dấp của dòng tộc mình nơi mà đến ½ gia tộc đã đi vào nam vào năm 1954. Ông nói về một người mẹ có 2 người con thuộc hai chiến tuyến hy sinh giờ cùng nằm trên một bàn thờ, tôi nhớ rằng Bố mình cũng đã từng đi bộ đội để giết những “Ngụy quân” trong đó có con của ông Bác là lính Việt Nam Cộng Hòa.

Tất nhiên đất nước ta có những khoảng cách không dễ xóa nhòa và tôi là một bằng chứng.

Sau khi nghe tôi thuyết trình ở Mỹ, có người gọi tôi là thân cộng để rồi, khi về Việt Nam những người cộng sản gọi tôi là chống cộng. Tôi chống ai, giữa một đất nước trải dài, khác biệt và chia cắt cả về địa lý lẫn tư duy. Một đất nước mà từ những năm 1940s Ông nội tôi đã dạy bài “Hận Sông Gianh” cho Bố tôi, và hôm nay con tôi vẫn nghe cô giáo lớp một gọi những người anh em bên kia chiến tuyến là “quân ngụy”

Thế nhưng Ông Võ Văn Kiệt cho ta nhiều hy vọng.

Ông đã từng nói: "Tổ quốc là dân tộc Việt Nam mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay bất cứ phe phái nào cả". Người mẹ kia vẫn thờ 2 con trên một bàn thờ. Bố tôi và người Lính Việt Nam cộng hòa kia vẫn là Con chú con Bác.

Tôi đã từng đi dọc bức tường Arlington ghi tên những người Mỹ chết và mất tích trong chiến tranh Việt Nam và cũng nghĩ về việc Ông mong tìm được xác của Vợ và 2 con bị bắn chìm trên chiếc tàu Thuận Phong trên trên sông Sài gòn vào năm 1966.

Càng đến lúc ông gần chết, tôi – người bất đồng chính kiến - càng cảm thấy gần gũi với tư tưởng của Ông hơn bao giờ hết.

Và đó cũng là di sản mà những người cầm quyền đương thời phải biết vượt qua.



[1] Bên cải cách, theo sự sắp xếp của tác giả, bao gồm: Bách – Thạch – Thọ - Khuê –Công. (Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch, Mai Chí Thọ, Đoàn Khuê, Võ Chí Công ). Phái trung dung ở giữa là: Linh – Hùng - Tâm (Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng và Nguyễn Đức Tâm ). Còn bảo thủ bao gồm: Mười – Anh –Kiệt – Bình –Nguyên (Đỗ Mười – Lê Đức Anh – Võ Văn Kiệt – Nguyễn Thanh Bình – Đồng Sỹ Nguyên ).